Phiên dịch

IMG_2454

Ảnh: Tôi phiên dịch cho diễn giả tại Lễ Khởi Công KCN Phú Mỹ 3

Hôm nay tôi sẽ chia sẻ một vài điều liên quan đến một công việc tay trái mà khá nhiều bạn quan tâm thăm hỏi. Đó là phiên dịch Anh Việt/Việt Anh tại các sự kiện.

Thú thật tôi không hề được đào tạo bài bản trong lĩnh vực phiên dịch (cũng như MC), tất cả đều là vừa làm vừa học. Phiên dịch là một việc rất thử thách. Việc nghe nói lưu lóat tiếng Anh cho đến việc phiên dịch trôi chảy là hai chuyện hòan tòan khác nhau. Đặc biệt khi dịch Anh sang Việt thì cần một vốn từ tiếng việt kha khá. Đó là lý do tại sao khi chia sẻ tại các diễn đàn sinh viên, tôi luôn nhắn nhủ với các bạn mới đi dụ học về rằng, muốn thành công ở Việt nam thì phải giỏi tiếng Việt nữa, tiếng Anh chưa đủ đâu!

Thật tình đây là một việc rất khó và hiện tại tôi vẫn phải luôn hoàn thiện mình qua mỗi lần đảm trách công việc. Tôi thật nể phục những người phiên dịch cabin (dịch song song) và thật sư vẫn chưa thể hiểu nổi làm sao họ có thể vừa nghe vừa dịch như vậy. Ở đây chỉ chia sẻ vài kinh nghiệm trên góc độ dịch đuổi, tức là người kia nói xong thì mình dịch theo và không biết trước họ sẽ nói gì.

Nói chung qua nhiều lần làm nghề, thành công có, bết bát có, tôi đúc kết đựơc vài kinh nghiệm sau đây cho những bạn nào muốn thử sức với công việc này nhé.

1. Khi được yêu cầu dịch mà không có văn bản trước, bạn lo ngại người nói sẽ sử dụng quá nhiều lý thuyết, số liệu chuyên môn không thể nhớ hết?

–> Bạn đừng lo. Hãy nghĩ thế này: nếu bạn cần văn bản để có thể dịch được thì 90% họ cũng phải cần văn bản để nói. Nghĩa là: nếu họ nói không có văn bản, thì bạn cũng yên tâm, họ không thể thuộc được những lý thuyết, số liệu dài dòng đâu. 90% sẽ là chia sẻ cảm tưởng, đại lọai như: tôi rất vui khi tham dự sự kiện hôm nay, như các bạn đã biết, công ty A đã có nhiều năm đóng góp cho nền kinh tế việt nam, tạo ra nhiều sản phẩm…tôi đánh giá cao thành quả này….  Với những ý này, chỉ cần bạn nắm chắc một số từ khóa là có thể làm tốt!!!

2. Bạn lo ngại sẽ không dịch được hết ý và người nghe sẽ chê cười –> Đừng lo, hãy nghĩ thế này:

Thí dụ bạn dịch Việt sang Anh nhé. Người nước ngòai khi nghe bạn dịch sẽ không biết tiếng Việt nói gì và cái họ nghe duy nhất là phần tiếng anh của bạn! Vậy thì, nếu bạn nói cho hay, thóang nghĩa và không đi quá xa so với thực tế thì họ sẽ càng khóai!!!! Còn bạn sợ những người Việt giỏi tiếng Anh chê cười thì yên tâm, chỉ những người có khả năng phiên dịch mới biết bạn dịch thiếu đấy!!!  Họ nghe xong tiếng Việt rồi nghe bạn ro ro tiếng Anh là họ khóai rồi.

Ngược lại từ Anh sang Việt cũng vậy. Những người Việt mà cần nghe phiên dịch của bạn thì họ cũng sẽ chẳng hiểu hết tiếng ANh đâu mà biết bạn dịch sai, dịch thiếu. Quan trọng là diễn đạt tiếng Việt sao cho hay, cho trôi chảy thôi!!!! Mà cái này thì tha hồ vẽ vời vì là ngôn ngữ bản xứ của chúng ta mà phải không. Cứ phang những mỹ từ khen công ty, công trình, đánh giá cao nỗ lực…..rồi những thông tin liên quan mà bạn biết.

3. Nói tóm lại, quan trọng nhất vẫn là phải có vốn từ lớn cả Anh lẫn Việt thì bạn mới có thể phăng cho suôn sẻ! Tối kỵ nhất là để bị ngắt quãng, bạn dừng lại quá lâu để suy nghĩ. Thà dịch thóang, thiếu ý một chút nhưng liền mạch thì vẫn hơn là dừng quá lâu để suy nghĩ làm sao dịch cho đúng! Khi đó mạch phát biểu sẽ bị cắt và khán giả sẽ nghĩ ngay là bạn không biết dịch!! Việc nâng cao vốn từ thì là công việc cả đời rồi, đặc biệt là những từ chuyên môn như trong kinh tế, y khoa, xây dựng, nghệ thuật….

Ba điều trên có thể mới nghe bạn sẽ không đồng tình, đặc biệt là điều 1 và 2 nhưng nếu bạn có cơ hội làm thử công việc này thì cũng sẽ có lúc bạn đồng ý với tôi. Lúc mới vào làm, tôi cũng phải cố gắng dịch sao cho sát nghĩa, đúng từ…rồi đâm ra bị ngắt quãng. Rồi luôn trong trạng thái lúng túng tâm lý khi không biết người lên phát biểu sẽ nói gì vì không có văn bản. Nhưng qua nhiều chinh chiến, tôi rút ra đựơc ba điều trên và tôi tin rằng nếu bạn làm theo, nó sẽ giúp bạn ổn định tâm lý và tự tin hơn rất nhiều.

Lưu ý: sẽ có trường hợp thế này. Người nói có văn bản dài sọc, lý thuyết số liệu tùm lum còn bạn thì không có gì hết. Lúc này thì buộc bạn phải chuẩn bị sẵn giấy bút để ghi lại ý chính và cố gắng truyền tải càng nhiều ý càng tốt. Trường hợp này sẽ ít khi xảy ra, thông thường nếu người phát biểu có văn bản thì ban tổ chức sẽ bằng mọi cách cung cấp văn bản cho MC trước hoặc họ dịch sẵn trên slide máy chiếu để tiết kiệm thời gian.

Phổ biến nhất vẫn là những trường hợp như tôi đã nêu, một vị khách đặc biệt muốn lên phát biểu chia sẻ cảm xúc, dặn dò, phát biểu chỉ đạo…. Nếu họ nói không có văn bản thì bạn cũng đừng quá lo lắng nhé!!!

Chúc bạn thành công!

Lê Quốc Vinh, a media pioneer in Vietnam

Bài về anh Lê Quốc Vinh, Sáng lập & Chủ tịch của Le Media Group, một người trong nghề mà mình ngưỡng mộ. Copy từ blog của anh tại địa chỉ:
http://lequocvinh.com/2015/03/media-pioneer/
 
 
 
 
Cả đời chưa được viết về profile bao giờ, bây giờ được lên báo ngại quá J. Đây là bài viết của Aruna Harjani, một nhà báo tự do ở Jakarta, Indonesia, đăng trên trang cuối của tờ China Daily Asia Weekly, số ra ngày 20/03/2015. Cái hình vẽ là của Cai Meng.  Đăng lại để giữ làm kỷ niệm vậy.
 

FROM OUT OF WAR-TORN VIETNAM, EX-JOURNALIST BUILDS A THRIVING PUBLISHING BUSINESS IN PARTNERSHIP WITH THE GOVERNMENT

By ARUNA HARJANI in Jakarta For China Daily Asia Weekly

The fall of Saigon (now called Ho Chi Minh City) on April 30, 1975 was a watershed moment in Vietnam’s modern history followed by reunification of the north and south. However, this challenge of nation-building brought out the best in many, such as Vinh Le Quoc, a pioneer of Vietnam’s media industry.

Vinh, who has run several publishing ventures in partnership with the government since the 1990s, grew up in the tumultuous years of the Vietnam War. He inherited his passion for the industry from his father, who worked on a state-run publication.

Vinh_ChinaDailyAsiaWeekly

“My father had a very interesting life as a senior journalist and photographer, which is why I decided from a young age to become a journalist when I grew up,” he says.

The senior Vinh was trained in East Germany during the Cold War. In 1968, when Vinh was born, the North Vietnamese Army had launched the Tet Offensive, attacking US and South Vietnamese positions. Hanoi, where Vinh and his family lived, subsequently came under attack from the United States.

“The whole city was under heavy bombing,” he says. “My mother, my two siblings and I had to evacuate out of the city.” Vinh’s father, who was shortsighted and thus unable to join the army, stayed back in Hanoi to work when the rest of the family escaped.

“We moved to many different villages and had to live with farmers. We lived among water buffalos and rice fields,” Vinh recalls. Yet wherever the family ended up, he says that his father managed to hop on a bicycle and find them, supplying them with food and basic necessities.

When the Paris Peace Accords of 1973 were signed, Vinh and his family were able to return to the city.

“My father was one of the first journalists who were flown by helicopter from Hanoi to Saigon to witness the victory of North Vietnam,” he notes. The senior Vinh was working for Vietnam Pictorial, a publication of the state-owned Vietnam News Agency.

In the immediate aftermath of reunification, life was tough for most Vietnamese. “We called it ‘subsidy time’ as all the food and necessary items were supplied by the state according to the number of family members.”

Each member of the family was given one set of clothing every year, Vinh recalls. “We were given 11 kilos of rice and 200 grams of meat every month per member.”

Everyone, including children, had to work. Vinh went to school during the day but helped his mother in the evening baking cookies for her to sell to street food vendors.

In 1985, Vinh managed to win a partial scholarship to Hanoi University, and as part of a government policy, his food supply was increased. “I was happy because I was able to minimize my parents’ expenditure.”

The next year, Vietnam opened its doors to the world, allowing private businesses and foreign investment. “Everybody was talking about doi moi, or innovation,” he says.

These policy changes meant that when Vinh graduated from Hanoi University in 1990 there were plenty of opportunities as the first few overseas investors — including Telstra, an Australian telecoms company, and mining giant BHP Billiton — were entering the country.

“Because I studied in English, which many Vietnamese didn’t, I could find jobs in companies with foreign investments.”

He landed a job at the Vietnam News Agency as an editor. “My job was to watch foreign channels and translate important news into Vietnamese, then send these to government agencies for verification.”

After six months, Vinh became a junior editor and reporter for the World Affairs Review under the Ministry of Foreign Affairs. A year later he shifted to the Vietnam Investment Review (VIR), the first foreign-invested weekly newspaper in the country, which was later sold to Australian Consolidated Press.

“I moved up the ladder very quickly, becoming a senior journalist and then a news editor, thanks to the tutelage under my father.”

In 1993, Vinh received a scholarship from the US-based Institute of International Education. During his overseas training, he realized he was more interested in management, so he focused on that side of the media business during his internships and visits to newspapers and magazines.

Vinh returned to Vietnam in 1994 to work as an assistant managing editor for VIR and as a managing editor for the Vietnamese version of the same paper. The following year, he was sent to Brunei to cover Vietnam’s inclusion in the Association of Southeast Asian Nations.

When Vietnam was exploring plans to set up its first stock exchange, Vinh proposed to his Australian boss to publish a daily financial newspaper to cover the new change. “Both the Australian boss and the governing agency, the Ministry of Planning and Investment, declined.”

Ready to strike out on his own, Vinh quit his job at VIR in 1996, moved to Ho Chi Minh City and started his first magazine, NHA DEP. Meaning beautiful home, NHA DEP was the first interior design magazine in Vietnam and the flagship of his company, Hai Dang Design.

“I had some American friends as major investors,” he says. “My only investments were my talent and management skills. It was the first time we set up a new model of partnership between the private sector and government for magazine publication.”

The model meant a private company would invest and manage the financial and commercial activities while the government agency approved the editorial.

Eventually, in 1998, Vinh sold his shares in the business and moved back to Hanoi to join a new company, HQ Vision, with a new magazine. DEP (beauty) is currently the largest and oldest premium fashion and lifestyle publication for women in Vietnam. With the government as a partner, Vinh asked his father, by then the editor-in-chief of Vietnam Pictorial, to become another partner.

In 2002, Vinh restructured HQ Vision to establish Le Bros, a marketing and public relations company. It is now a member of Worldwide Partners, a global network of owner-operated agencies.

Two years later, he established Le Media to act as a dedicated publishing unit. “We wanted to separate our businesses into two different fields to avoid conflict of interest,” he explains.

Today, Le Media has five magazines. In addition to DEP, the stable has a men’s magazine, a business magazine and two titles licensed from the United Kingdom — Stuff and Autocar.

In 2013, he set up a holding company, Le Investment, to combine his companies into one group. Another digital marketing and communication services company, Le Digital, was established in 2014.

“We call the private-government partnership by a term that only exists in Vietnam, ‘socialization’. This means the private sector can invest in a media company but remains under the strict governance of the state bodies,” he explains. “The government agencies are our partners. The publishing and broadcasting licenses belong to the government partners while the copyright may belong to private companies.”

Vinh has been in the industry long enough to understand the kind of articles he can publish. “I think it is important that one knows the balance between making money and contributing to society.”

He also says that in the near future, he expects that the trend of socialization “or privatization, as the West calls it”, will be a common trend in Vietnam.

“Soon I believe that private sector will be given a better chance to invest directly in the media with the government as a supervisory agency”.

Nhận diện tương lai truyền hình (sưu tầm)

Tại Việt Nam, trong vài năm nữa, truyền hình mặt đất sẽ dần thu hẹp, thay bằng DTH với sự tham gia của vệ tinh VINASAT. Mỗi gia đình sẽ có cái chảo nhỏ và đầu thu settopbox để thu hàng trăm kênh truyền hình, trong đó có truyền hình độ nét cao.
img-1233220226-1

Nếu vẽ một biểu đồ về tốc độ thay đổi công nghệ trong truyền hình thì sẽ thấy đường biểu diễn gần như rất ít thay đổi từ cuối thập niên 60 đến cuối thập niên 90 của thế kỷ trước. Máy thu hình dùng ống tia âm cực CRT gần như đã làm cho công nghệ truyền hình không thay đổi về chất lượng hình ảnh suốt 30 năm. Để đáp ứng đòi hỏi của người tiêu dùng, người ta đã cải tiến âm thanh từ mono thành stereo rồi siêu trầm, âm thanh vòm…

Cuối những năm 1990, công nghệ máy thu hình mới có một cải tiến đáng kể là màn hình CRT “siêu phẳng” thay cho màn hình cong bấy lâu. Dù là màn hình siêu phẳng, độ nét của truyền hình cũng chỉ khoảng 320 x 240 mà thôi.

Cuộc cách mạng mang tên “LCD”
Phân hoá : Truyền hình sẽ chỉ phát miễn phí những kênh đại chúng, còn các kênh chất lượng cao sẽ phải trả tiền.

Phải nói rằng kỹ thuật cấy những bóng bán dẫn phát sáng đã cho ra những tấm LCD panel đã cải tiến đáng kể độ phân giải truyền hình. Tivi LCD ngày càng sáng hơn và độ phân giải ngày càng cao hơn. Hình ảnh được tái tạo không phải bằng kỹ thuật tương tự (analog) mà bằng kỹ thuật rời rạc từng ảnh điểm (pixel), từ đó khái niệm tivi số (digital) ra đời.

Những năm đầu thế kỷ 21, tivi LCD phát triển mạnh mẽ và người ta chứng kiến sự chuyển tiếp giữa analog và digital. Nếu đỉnh cao của truyền hình analog là độ phân giải SD (độ nét bình thường) với chuẩn DVD 720 x 576 thì đỉnh cao của truyền hình digital hoàn toàn chưa có điểm dừng. Nếu cuối thập niên 90, chất lượng hình ảnh DVD được xem là “tuyệt hảo” thì nay, chất lượng DVD đã lùi về quá khứ, nhường bước cho HD (độ nét cao) ra đời. Hiện nay, người ta còn có HD-ready và Full-HD, chao ơi là rối rắm!

Lùng bùng thuật ngữ
Bởi cải tiến quá nhanh, người tiêu dùng không theo kịp để hiểu về tivi. Nhiều người vẫn nhập nhằng, ví như “thấy xem DVD trên tivi CRT hình ảnh cũng rất đẹp trong khi xem truyền hình trên tivi LCD hình ảnh cũng chẳng khá hơn”. Vậy sao gọi tivi LCD là cuộc cách mạng chất lượng hình ảnh? Lại có người cho là nếu được so sánh, được xem cùng một lúc hai chiếc tivi với chuẩn SD (độ nét thường) và chuẩn HD (độ nét cao) thì mới phân biệt, chứ nếu chỉ xem đơn lẻ một loại thì cũng hao hao giống nhau mà thôi.

Thực ra, tivi LCD do dùng kỹ thuật số để hiển thị hình ảnh nên độ phân giải nhanh chóng được cải tiến để đạt đến phân giải cao. Hơn nữa, ưu điểm của kỹ thuật số là việc truyền dẫn. Người ta dùng các giải thuật nén để truyền dẫn nhiều thông tin hơn truyền hình analog.

Nếu ai đó còn lùng bùng về thuật ngữ thì tham khảo giải thích nôm na dưới đây:

Đối với truyền hình Full-HD, khi xem một trận bóng với hình ảnh đầy đủ hai cầu môn và 22 cầu thủ, người xem phải thấy được số áo của từng cầu thủ. Điều này thì tivi LCD xem SD hoặc tivi analog không thể nào làm được.

Hình vẽ bên dưới cho thấy chuẩn truyền hình Full-HD cho hình ảnh kích thước lớn hơn chuẩn SD và băng video như thế nào. Người ta thường gọi chuẩn Full-HD là 2 megapixel – 2 chấm (gần bằng 1.920 x 1.080) so với DVD xem SD chỉ được chưa đến 0,5 megapixel, tức chưa được nửa chấm.

Rắc rối Full-HD
Vậy hiện nay chúng ta đã có Full-HD chưa? Tại Việt Nam, thị trường đã có nhiều loại tivi LCD đạt chuẩn độ nét Full-HD 1.920 x 1.080 nhưng chưa có nguồn phát tín hiệu cho các tivi này trừ các kênh thử nghiệm trong truyền hình cáp. Muốn xem được độ phân giải Full-HD, người ta phải mua các đầu máy thế hệ mới như Blu-ray, song tìm kiếm đĩa phim cho các đầu máy này không dễ dàng chút nào.

Bởi độ nét cao tức nhiều ảnh điểm (pixel), mỗi frame hình chứa đến 2 triệu pixel khiến lượng thông tin truyền đi trong mỗi giây vô cùng lớn, người ta phải dùng nhiều giải thuật nén để tiết kiệm đường truyền và cả vật chứa phim ảnh độ nét cao. Thông thường, phim được chứa trong đĩa quang học (như Blu-ray) hoặc đĩa cứng HDD. Vì thế, thiết bị phát hình và truyền dẫn cho Full-HD rất đắt tiền. Người tiêu dùng mua một chiếc tivi thì dễ nhưng nhà đài muốn phát truyền hình Full-HD thì sẽ gặp trở ngại về kinh phí đầu tư.

Bùng nổ các giải pháp nén
Truyền dẫn tốn kém khiến các nhà khoa học nghĩ cách nén hình ảnh HD nhỏ lại mà không làm suy giảm đáng kể chất lượng hình ảnh. Cũng như file nén MP3 trong lĩnh vực audio nhiều năm trước đây đã thu nhỏ file âm thanh trong CD đến 10 lần thì các định dạng mới cho HD cũng thu nhỏ file hình HD đáng kể. Tiêu biểu nhất là định dạng Matroska với giải pháp nén H.264 đã gây nên một trào lưu xem phim HD trên các HD Media Player, giống như trào lưu máy nghe nhạc MP3 trước đây.

Cách đây 3 năm, người ta đã giới thiệu chuẩn truyền hình Quad-HD (4 lần HD) 3.840 x 2.160. Độ nét của chuẩn này gấp 4 lần Full-HD. Chưa hết, Chính phủ Nhật Bản còn dự định đến năm 2015 sẽ phát hình Ultra-HD có độ nét gấp 4 lần chuẩn Quad-HD tức 7.680 x 4.320 tương đương 33 megapixel, có độ nét có thể cạnh tranh với phim nhựa 35 mm. Lúc đó, trong thí dụ về sân bóng đá với 22 cầu thủ nêu trên, người xem có thể xem chi tiết đến mức thấy rõ mắt cầu thủ… liếc hướng nào trước khi chuyền bóng!

Ba xu thế truyền hình tại Việt Nam
1. Truyền hình cáp analog hiện nay với dung lượng 70 kênh sẽ phải thay thế bằng truyền hình cáp kỹ thuật số để tăng số kênh lên vài trăm, trong đó có nhiều kênh HD. Quan trọng là người xem truyền hình cáp lúc đó bắt buộc phải có settopbox.

2. Truyền hình mặt đất sẽ thu hẹp dần dần mà thay bằng DTH với sự tham gia của vệ tinh Vinasat. Mỗi gia đình sẽ có cái chảo nho nhỏ và đầu thu settopbox để thu hàng trăm kênh truyền hình, trong đó vẫn có truyền hình HD.

3. Phân hóa giàu nghèo: Truyền hình chỉ phát miễn phí những kênh đại chúng, còn các kênh chất lượng cao sẽ phải tính tiền. Lúc đó mỗi hộp settopbox sẽ đi kèm thẻ tính tiền và tùy vào mức chi trả nhiều hay ít, người xem sẽ được xem nhiều hay ít các kênh chất lượng cao.

(Theo Thế giới @)
(http://www.songthu.net/categoryblog/419-nhan-dien-tuong-lai-truyen-hinh.html)

“Phố báo chí” Sài Gòn trước 1975: Đệ nhất thiên đường của cánh phóng viên quốc tế

Theo Hồng Sâm Nhà báo & Công luận
 
“Phố báo chí” Sài Gòn trước 1975: Đệ nhất thiên đường của cánh phóng viên quốc tế
Có rất nhiều điều thú vị về đời sống báo chí Sài Gòn trước 1975 mà không phải ai cũng được tiếp cận. Đơn cử như chuyện về những con phố, những “trung tâm” báo chí tại Sài Gòn những năm trước giải phóng. Tìm về những nơi chốn giờ đã vào lịch sử này, để thấy được người xưa đã làm báo như thế nào. Những câu chuyện hậu trường làm nghề thú vị cũng theo đó được gợi mở dần.
 
Trong mắt nhìn của giới truyền thông quốc tế tại Sài Gòn trước năm 1975, những nơi như khách sạn Caravelle, quán cà phê Grival… có thể xem là “đệ nhất thiên đường”. Bởi tại những nơi này, cánh phóng viên không chỉ được thưởng thức cảnh trí view đẹp thuộc hàng nhất nhì Sài Gòn, mà còn có cơ hội “tám chuyện”, đủ thứ hỉ nộ ái ố của chuyện làm báo thời chiến.
 
Những người “để tám”
 
Nói về những nơi chốn “kinh điển” để cánh phóng viên “tám chuyện” thì trước hết phải nói qua về những người đóng vai trò chính yếu trong những “cuộc buôn” bất kể ngày giờ ấy. 
 
Khi cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam đến hồi gay cấn (giai đoạn từ năm 1971-1975), cũng là lúc đất Sài Gòn chứng kiến sự đổ bộ ồ ạt của cánh phóng viên quốc tế. Họ đến từ khắp nơi trên thế giới, nhưng đông nhất, vẫn là từ nước Mỹ và phương Tây- nơi mà công chúng báo chí- đang ngóng đợi nhiều nhất về những tin tức chiến sự tại miền Nam Việt Nam. 
 
Có lẽ bởi cả nhu cầu thông tin lẫn tiềm lực kinh tế mà hầu hết các cơ quan báo chí có văn phòng hay phóng viên đại diện tại Sài Gòn đều là các hãng thông tấn lớn. Đơn cử như hãng thông tấn AP, các kênh truyền hình như ABC, NBC, CBS, tạp chí Time, Newsweek, thời báo New York Times… 
 
Trong số đó, AP và CBS có đội quân hùng hậu và chuyên nghiệp nhất. Họ cũng là hai trong số không nhiều các cơ sở truyền thông đặt hẳn văn phòng đại diện tại Sài Gòn trong khoảng thời gian dài. Số lượng cây viết kì cựu tại AP lên tới con số chục: Peter Arnett, Horst Faas, Neal Ulevich, Dirck Halstead, Richard Pyle (Gòn năm 1964-1968), George Esper, Hugh Mulligan, trưởng đại diện AP tại Sài Gòn từ 1970 đến 1973), Seymour Topping, Malcolm Browne (trưởng đại diện AP Sài Jurate Kazickas, Edith Lederer… 
 
Không kém phần đông đảo là đội ngũ phóng viên tại văn phòng hãng CBS tại Sài Gòn: Brian Ellis, Ed Bradley, Bill Plante, David Green, Bob Simon, Ken Wagner… Văn phòng đại diện của kênh truyền hình CBS tại Sài Gòn trong nhiều năm là một trong 3 văn phòng đại diện được trang bị tốt nhất của CBS. 
 
Có thời điểm để đảm bảo không bỏ sót một sự kiện chiến sự nào, lãnh đạo CBS không quản ngại tốn kém đã cử cùng một lúc 5 đoàn quay phim với những máy quay hiện đại nhất, tay máy thiện nghệ nhất tới Việt Nam. 
 
Ngoài những phóng viên “có số có má” như đã kể ở trên, còn số lượng không ít những người, nói thẳng ra, là chỉ “đeo mác” nhà báo chứ không hơn. Họ là lính “đánh thuê” cho các tòa báo, không có tấm thẻ nhà báo, không qua các lớp đào tạo, huấn luyện nghiêm ngặt. Chỉ cần có thị thực (con dấu do viên chức nước ngoài đóng lên hộ chiếu để cho biết người cầm hộ chiếu có thể vào, đi qua hoặc rời nước của họ) và một lá thư giới thiệu từ người tuyển dụng là họ đã có dịp thể hiện mình tại các trung tâm báo chí thuộc quân đội Mỹ ở Sài Gòn.
 
Caravelle – nơi của những “óc tưởng tượng”
 
Khách sạn Caravelle SaiGon là một khách sạn 5 sao nằm ở số 19, Công Trường Lam Sơn, P.Bến Nghé, Quận 1, giữa khu trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Khách sạn bắt đầu xây dựng vào năm 1957, và mở cửa hoạt động khai trương vào đêm giáng sinh năm 1959.
 
Với vị trí tuyệt vời đối diện với Nhà hát thành phố, Caravelle được liệt vào danh sách những khách sạn danh tiếng và tuyệt vời và tốt nhất Thành phố Hồ Chí Minh. Và chính Caravelle là nơi được cánh báo chí quốc tế trước năm 1975 “để mắt” tới nhiều nhất. 
 
Có lẽ bởi từ sân thượng khách sạn ở trên tầng thứ 10, các nhà báo có thể quan sát những cuộc biểu tình, những cuộc đảo chính diễn ra trước Quốc hội (nay là Nhà hát Lớn) hoặc Dinh Độc lập (bây giờ là Dinh Thống Nhất). 
 
Sau khi quan sát xong, các nhà báo có thể dùng cầu thang đi về văn phòng của mình, được thuê dài hạn bên trong khách sạn hoặc ở các khách sạn gần đấy, để viết bài tường trình và gửi về cho các tòa soạn hoặc các đài ở New York, London hay Tokyo. 
 
Đơn cử hãng truyền hình CBS của Mỹ đặt văn phòng ở Caravelle. Mỗi khi thu xong một câu chuyện để phát hình, đài có người ôm hộp phim nhựa cấp tốc chạy ra phi trường Tân Sơn Nhất, gửi hộp phim nhựa theo một chuyến bay gần nhất của hãng Pan Am hoặc United đem về Mỹ. 
 
Caravelle còn là nơi các báo thường tổ chức họp báo. Tháng 4/1960, có 18 nhân vật trí thức miền Nam tổ chức họp báo tại khách sạn Caravelle để công khai xác nhận họ là một nhóm đối lập với Chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm và ra tuyên ngôn kêu gọi Chính phủ phải có những cải cách.
 
Ngoài việc là chốn tác nghiệp của cánh phóng viên “siêu sang”, Caravelle còn là nơi tám chuyện trên trời dưới bể của cánh nhà báo rỗi rãi. Đông đúc hơn cả chính là là số phóng viên “đeo mác” nhà báo đã nói để trên. 
 
Sự lười biếng và cả hèn nhát đã khiến họ chấp nhận làm phóng viên salon, suốt ngày quanh quẩn xung quanh các khách sạn như uống rượu, tán chuyện, chơi bời, rồi tạo nên những bài viết về chiến tranh, không phải từ thực tế xông pha chiến trường, mà nhờ… óc tưởng tượng.
 
Hoài niệm Givral
 
Vào dịp 30/4/2010, trong cuộc “Hội ngộ Sài Gòn” của các cựu phóng viên chiến trường Mỹ và phương Tây, một chủ đề hay được họ nhắc tới, thậm chí có lúc xôn xao, là sự kiện quán cà phê Givral (nằm trên góc đường Đồng Khởi và Lê Lợi ở trung tâm quận 1, Tp.HCM) sẽ bị đập đi cùng với toà nhà Eden. Không ít người trong số họ đã tranh thủ tới ghi lại những hình ảnh cuối cùng về một Givral “lịch sử và huyền thoại”.
 
Trong thời gian chiến tranh, tiệm cà phê – bánh ngọt Givral ở ngay góc đường Lê Lợi và phố Đồng Khởi, mà đa phần phóng viên thời đó vẫn gọi là đường Catinat, là điểm hẹn của các nhà báo, điệp viên, nhân viên phản gián, sỹ quan và đám người xoay quanh một nhóm những cá nhân được cho là thạo tin. 
 
Đó không phải là nơi tìm các chủ đề giật gân hay để tung tin giả. 
 
Đó là khoảnh khắc thư giãn của những người bạn thân vào cuối các buổi chiều, sau khi đã trải qua một ngày viết lách mệt mỏi hay một chuyến đi địa phương với những giờ phút căng thẳng mà người ta gọi là “mặt trận”.
 
Quen thuộc tới mức cà phê Givral đã được các phóng viên đặt tên mới là Radio Catina.
 
Một trong những người khách quen của các buổi gặp gỡ này là một nhà báo người Việt làm cho tạp chí Time Magazine mà Văn phòng nằm tại tầng một của Khách sạn Continental, phía bên kia đường Đồng Khởi, hồi đó được gọi là đường Tự Do (tên đường phố ở Việt Nam thay đổi theo chế độ và nó chỉ ổn định sau năm 1975). Người đó nhà báo- điệp viên Phạm Xuân Ẩn. 
 
Một giai thoại: một thời gian dài sau khi chiến tranh kết thúc, ông Ẩn được phong cấp tướng và nhiều nhà báo phương Tây đã gọi ông là “Tướng quân Givral”, một biệt danh tồn tại cho đến khi ông qua đời vào năm 2006.
 
Có thể nói nếu La Pagode là nơi của giới nghệ thuật, thì Givral là nơi của báo giới trong và ngoài nước trước 1975.
 
 
 
 
 

 

 

Alan Phan: Đi tìm niềm tin thời Internet – Những câu chuyện cũ và mới

Đây là những câu chuyện cũ nhưng rất mới, về quá khứ mà như nói cho tương lai, mộc mạc mà như những bài giảng quý… Những ai muốn tìm hiểu về kinh tế và quản trị, về làm giàu và đầu tư, về tri thức và ứng dụng, sẽ có thêm một cuốn sách hay.

 

Tác giả: Alan Phan NXB Thời Đại Bản quyền: ThaihaBooks

 

Tác giả: Alan Phan
NXB Thời Đại
Bản quyền: ThaihaBooks

 

Về tác giả: 

Tiến sĩ Alan Phan là doanh nhân Việt kiều đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên sàn chứng khoán Mỹ vào năm 1987. Năm 1999, Tập đoàn Hartcourt của ông đạt mức thị giá lên đến 670 triệu USD, hiện nay đã tách thành năm công ty (HRCT, SRRY, ETLK, ENVI và SPXP) và tiếp tục niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ.

Ông cũng là người đầu tiên giới thiệu hệ thống bán cổ phiếu qua mạng và giáo dục online tại Trung Quốc vào năm 1997. Trước đó, ông đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong các công ty đa quốc gia cũng như các ngân hàng lớn ở Wall Street.

Hiện nay, Tiến sĩ Alan Phan đang là Chủ tịch Quỹ đầu tư VIASA (quỹ riêng của gia đình) và là chuyên gia tư vấn về các thị trường đang nổi (Emerging Markets) cho một số công ty đa quốc gia tại Mỹ, châu Âu và Trung Quốc. Ông cũng là cổ đông lớn tại 6 công ty đại chúng ở Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Nội dung chính:

Phần 1: Căn bản đạo đức
Giá trị của tài sản mềm

Tôi có đến thăm tập đoàn Foxconn ở Shenzen hai năm về trước. Nhà máy hiện đại với hơn 30 ngàn nhân công, hệ thống dây chuyền sản xuất và các phòng “sạch” (clean room) vĩ đại trông rất ấn tượng.

Sản phẩm lớn nhất họ gia công là các iPhone, iPad, iPod cho Apple. Trong khi Apple làm chủ bản quyền trí tuệ và thương hiệu nên kiếm lời khoảng 140 USD mỗi đơn vị iPhone, lợi nhuận của Foxconn khoảng 7 USD một chiếc.

Những công ty có thị giá cao nhất trên thế giới đều là những công ty mà giá trị mềm vượt trội: Google, Microsoft, Facebook, Pfizer, Oracle, IBM… Không một công ty bất động sản nào nằm trong top 100 công ty hàng đầu.

Tài sản mềm mang giá trị quan trọng nhất trong lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế tương lai.

Tài sản mềm của Việt Nam

Liệu chúng ta có thể đánh giá được những tài sản mềm của Việt Nam? Vai trò của chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào trong chiến lược kinh tế khu vực và toàn cầu? Hãy kiểm điểm:

1. Tài sản con người

Hai yếu tố tạo mũi nhọn cho đội ngũ nhân lực là sáng tạo và năng động. Đây là phạm trù của tuổi trẻ và Việt Nam thường hãnh diện với một dân số mà 65% (trên 50 triệu người) dưới 30 tuổi.

Tuy nhiên, sự yếu kém của nền giáo dục lý thuyết từ chương đã làm què quặt tiềm năng này. Công ty Intel đã không tìm ra đủ 180 nhân viên trung cấp cho nhà máy 1 tỷ đô la của họ ở Thủ Đức và phải nhập khẩu một số lớn chuyên viên từ Malaysia và Philippines. Các công ty FDI khác tại Việt Nam cũng có những than phiền tương tự.

2. Thương hiệu quốc gia

Nhờ vai trò lịch sử trong 2 cuộc chiến tranh Pháp-Mỹ, Việt Nam đã có tiềm năng để nổi tiếng và tạo thiện cảm với nhân dân thế giới. Tuy nhiên sau 37 năm từ ngày chấm dứt chiến tranh, sự thiếu vắng những thành quả ấn tượng trên mọi lĩnh vực từ kinh tế đến khoa học, từ nghệ thuật đến thể thao đã bào mòn thương hiệu Việt Nam.

3. Vị thế trên thị trường

Mọi nền kinh tế cũng như doanh nghiệp đều có thể tạo cho mình một thế mạnh trong các thị trường ngách, mà không cần đến các yếu tố cạnh tranh trên.

Hai ngành nghề tôi tin là Việt Nam có thể dẫn đầu tại ASEAN nếu biết phát triển đồng bộ và sáng tạo. Thứ nhất là nông nghiệp công nghệ cao. Tạo ra những sản phẩm xanh, sạch, an toàn được đảm bảo bởi những cơ quan kiểm phẩm nổi danh thế giới là bước đầu.

Thứ hai là ngành IT (công nghệ thông tin) tại các thành phố lớn bao quanh bởi các đại học tiên tiến và hiện đại.

4. Văn hóa gia đình và xã hội

Người Việt Nam có một sự gắn bó chặt chẽ với gia đình, làng xóm và đất nước, nên sự đùm bọc và tiếp sức tạo một thế đoàn kết mạnh hơn chủ nghĩa cá nhân của Âu Mỹ. Nhưng đây cũng có thể là một bất lợi vì tầm nhìn bị giới hạn, tâm lý bầy đàn rất cao, và quá gần nhau thì cũng dễ xảy ra xích mích mâu thuẫn.

Tải sản mềm của nước Mỹ

Dù đa dạng, phức tạp và có thể gây nhiều tranh cãi, trong góc nhìn của tôi, 5 tài sản mềm lớn nhất của nước Mỹ gồm có:

1. Niềm tin của người dân

Nếu hỏi một người Mỹ là họ tin vào cái gì, ngoài đức tin vào tôn giáo riêng, câu trả lời sẽ là một giao ước xã hội (social contract).

Niềm tin là nền tảng chung cho mọi thành phần trong sự vận hành quốc gia, và nó tạo sự bền vững cho mọi kế hoạch, ngắn và dài hạn, của cá nhân hay của chính phủ.

2. Văn hóa Mỹ quốc

Căn bản của nền văn hóa dân gian này là sáng tạo trong trí tuệ, hăng say trong công việc, chơi đùa và mua sắm thỏa thích, tôn trọng riêng tư, không ngần ngại sử dụng quyền lực của mình, minh bạch trong thông tin, cởi mở thân thiện với người lạ và ý tưởng mới, không trừng phạt thất bại và tiếp tục cố gắng trong mọi hoàn cảnh.

Trên hết, người Mỹ lạc quan vào sự thành công tối hậu của mục tiêu đời mình.

Văn hóa Mỹ đã đóng góp rất nhiều cho bộ mặt ngày nay của ngôi làng toàn cầu với những thay đổi và cải thiện liên tục.

3. Nguồn trí tuệ và tài năng

Ngày xưa mọi con đường đều dẫn đến La Mã. Ngày nay mọi tài năng đều tìm về đấu trường Mỹ.

Niềm tin về giao ước xã hội và văn hóa cởi mở là lý do chính cho sự du nhập của các tài năng thế giới. Đất lành thì chim đậu.

4. Thương hiệu quốc gia

8 trong 10 thương hiệu hàng đầu của thế giới là của Mỹ. Sự thay máu nhanh chóng của tư duy, tầm nhìn và trí tuệ Mỹ là một vũ khí rất năng động để giữ vững giá trị của thương hiệu khi đối diện với cạnh tranh.

5. Cơ chế chính trị và xã hội

Sau cùng, các tài sản mềm trên lại được quản lý bởi một cơ chế bền vững suốt lịch sử non trẻ của Mỹ. Yếu tố chính là sự phân quyền rõ rệt của 3 bộ phận: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Câu chuyện về Charlie

Sáng tạo để vượt khó

Charlie Tôn Quý đến Mỹ một mình năm 14 tuổi và cư ngụ tại bang Louisiana từ 1986. Vừa đi học vừa đi làm anh tốt nghiệp kỹ sư hóa học tại LSU và lập gia đình vào giữa thập niên 1990s. Vợ anh kinh doanh tiệm nail ở đây nên anh không đi làm mà mở một tiệm cung cấp linh kiện và hóa chất cho các tiệm nails khác.

Cuộc sống tạm ổn định cho đến khi anh quan sát khách hàng thăm viếng chuỗi siêu thị Wal Mart (có hơn 70% là phụ nữ) và nảy ra ý tưởng xin Wal Mart cho phép anh mở các tiệm nails ngay trong khu thương mại của họ.

Phải mất hơn 2 năm để thuyết phục Wall Mart và cho đến năm nay, các cửa hàng Regal Nails làm theo phương thức “nhượng quyền” (franchise) đã lên đến con số hơn 1.100 tiệm. Tại California, người Việt làm chủ đến 80% các tiệm nails và tỷ lệ cho toàn quốc là 44%.

Ba công thức của thành công

Tôi hỏi điều anh quan tâm nhất trong kinh doanh là gì? Anh nói “sự thỏa mãn của khách hàng”.

Điều quan tâm thứ hai của anh là “đội ngũ nhân viên”.

Điều quan tâm thứ ba của anh là làm sao tiếp tục xây dựng và “bảo tồn hai thương hiệu” Regal và Isis để giữ vững vị thế trên một thị trường rất cạnh tranh.

Tôi tin là anh còn tiến xa hơn nữa vì ngọn lửa trong anh vẫn bùng cháy, ham muốn học hỏi cầu tiến vẫn đầy ắp; và tuổi trẻ, môi trường cùng đạo đức kinh doanh của anh sẽ là vũ khí vô cùng bén nhọn.

Bài học từ Gary

Tôi quen Gary Woodworth khi ông bước vào cửa hàng bán vật dụng thể thao của người em họ, Tuấn, ở Van Nuys, California. Qua Mỹ năm 1975, Tuấn đi làm bảo vệ được 4 năm, bị đuổi vì ngủ với cô quét dọn văn phòng. Anh chạy ngược xuôi, vay mượn bạn bè bà con, cùng với tiền tiết kiệm cá nhân, hơn 250 ngàn đô la để mở tiệm bán lẻ.

Hai năm đầu, cửa hàng sống chật vật nhưng cũng có khách và theo ngạn ngữ của Mỹ, Tuấn “giữ được đầu mình khỏi mặt nước” (keep his head above water). Nhưng ảnh hưởng của trận suy thoái 1981- 1983 bắt đầu lan rộng, và tiệm vật dụng thể thao của Tuấn suy sụp.

Chi phí và tiêu xài cho gia đình ăn vào vốn, và Tuấn mời tôi lên tiệm tư vấn cho anh về thủ tục phá sản. Tôi có thừa kỹ năng vì đang chuẩn bị “đắp chiếu” cho dự án bất động sản của mình bên Arizona.

Gary tươi cười khi bước vào chào hỏi chúng tôi, đang ủ rũ như hai con mèo chết. Khoảng hơn 50 tuổi, áo quần bảnh bao, Gary giống như một thượng nghị sĩ với mái tóc trắng và phong cách lịch lãm.

Gary nói hôm nay là ngày may mắn của ông. “Tôi có giải pháp cho vấn đề của ông và ông không phải tốn 1 đồng xu nào”. Đề nghị của Gary rất đơn giản: “Bổ nhiệm tôi làm quản lý cửa hàng này. Tôi không lãnh lương và cứ mỗi tháng, tính sổ và chia cho tôi 25% số tiền lời của cửa hàng. Tôi cũng được quyền mua lại 30% tổng số cổ phiếu của công ty với giá vốn (book value) trong 2 năm tới. Các ông đang lỗ, chắc chắn không mất gì trong phi vụ này”.

Tuấn đồng ý và Gary bắt đầu ứng dụng nghệ thuật sáng tạo về tiếp thị với các hoạt động hàng ngày. Gary đi tiếp xúc các câu lạc bộ thể thao trong vùng, từ các đội bóng chày nhỏ của trẻ em đến các sân golf, tennis, polo… của những người giàu.

Ông còn lập ra chương trình trả hoa hồng cho người “giới thiệu” và các khách hàng lớn. Ông cũng cất công đi liên tục tìm các nhà tài trợ cho các chương trình thể thao ông sáng lập.

Sau 2 tháng, cửa hàng có lời và thu nhập của Gary gia tăng đều đặn. Một năm sau, ông mua lại 30% công ty và 3 năm sau, ông làm chủ 100%. Tuấn ôm được mớ tiền, đi xuống Mexico mở quán bar. Mọi người vui vẻ.

Sinh ra trong một gia đình thật nghèo ở Arkansas vào thời sau Đại Suy Thoái của Mỹ, Gary phải bỏ học từ lớp 7 để giúp cha mẹ nuôi 8 đứa em. Ông làm đủ mọi nghề và chưa bao giờ thất nghiệp một ngày nào, dù không có một học thức hay bằng cấp chính thống nào.

Bí quyết của ông là tìm hiểu thật rõ về vấn đề người chủ doanh nghiệp đang đối diện và tìm một giải pháp thỏa đáng trước khi tiếp cận.

“Bài học từ Gary” có thể ứng dụng qua nhiều khía cạnh với các bạn trẻ đang tìm việc làm hay các doanh nghiệp đang gặp khủng hoảng. Căn bản của bài học là hai nguyên lý: (a) chăm chú đến giải pháp, không phải vấn đề, và (b) nếu biết sáng tạo, chúng ta sẽ tìm giải pháp cho mọi vấn đề.

California Dreaming

Vào giữa thập niên 90’s, đạo diễn Wong Kai War thực hiện cuốn phim Chungking Expess, tạo nhiều ấn tượng. Đây là tên của một tiệm ăn ở Hồng Kông, nơi cô chủ nhân trẻ hay ngồi bó gối trên sân thượng nhìn về chân trời xa, mơ tưởng đến một vùng đất hứa có tên là Califonia.

Bài hát California Dreaming rất phổ thông của The Beach Boys cũng đã thu hút tôi, mỗi khi nằm dài ra bãi tuyết trắng của đại học Penn State thả hồn về một thế giới khác, đầy nắng ấm và hoa quả.

Trẻ hay già, tôi nghĩ trong tim chúng ta đều ấp ủ những California huyền thoại, đều muốn tung bay thật xa như những con chim trốn tuyết, tìm đến một thiên đường nơi không có những thôi thúc hàng ngày của cơm áo gạo tiền, của bổn phận ràng buộc hay của một trường sống già nua mệt mỏi.

Dĩ nhiên California có rất nhiều đặc biệt, cũng như mỗi người tình đều có những góc cạnh làm chúng ta ngây ngất. Tôi yêu những buổi sáng mùa hè California khi dậy thật sớm chạy trên bãi cát vắng lặng cùng những con chim hải âu giữa sương mù và hơi lạnh.

Và tôi cũng yêu Hồng Kông với những đêm khuya ngồi ăn cháo sò huyết giữa đám đông cuồn cuộn quanh khu Mong Kai. Nhưng dần dà rồi niềm vui cũng sẽ phai nhạt sau khi chúng thành thói quen.

Rồi còn mặt trái của điểm đến. California là nơi bạn có thể ngồi ngáp dài trên chiếc xe đắt tiền ở đường cao tốc 405, nơi mỗi ngày đều biến thành bãi đậu xe vào giờ cao điểm; nơi mà phải khoanh vùng trên bản đồ để đừng đi lạc vào sau 8 giờ tối (vì đây là khu tội phạm ngự trị).

Còn Hồng Kông? Ngoài khói bụi ô nhiễm từ xe cộ và các nhà máy bên lục địa, người Hồng Kông chen chúc chà đạp nhau như một bầy kiến vỡ tổ để kiếm tiền.

Suy cho cùng, Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Chúng ta cũng có những nét yêu kiều thầm kín bên trong những thói hư tật xấu hay tư duy già cỗi.

Một biểu tượng của kinh tế thị trường

Thế giới tài chính bàn tán không ngớt về IPO của Facebook với một định giá kỷ lục là 100 tỷ đô la (tương đương GDP của Việt Nam và lớn hơn GDP của 124 quốc gia khác) cho một công ty thành lập trong một căn phòng nội trú 8 năm về trước với 1 ngàn đô la giữa 2 sinh viên.

Công ty Facebook sẽ thu về 16 tỷ đô la tiền mặt từ IPO; có doanh thu 6,3 tỷ đô và lợi nhuận trước thuế khoảng 2,2 tỷ đô; nhưng tài sản lớn nhất là 900 triệu thành viên trên khắp thế giới.

Bỏ qua những lời ngợi khen hay chê bai, thán phục hay dửng dưng về sự trỗi dậy của một đế chế IT mới, tôi tìm ra vài điều thú vị từ hiện tượng Facebook này, nhất là khi nhìn từ một xã hội gần như tương phản:

1. Mô hình kinh doanh khác biệt

Có thể nói Facebook chỉ là một trang mạng, không hơn không kém, và dịch vụ duy nhất là để bạn bè, gia đình kết nối và chia sẻ. Và một mô hình kinh doanh hoàn toàn do khách hàng chủ động, họ tiếp thị và bán cho nhau dịch vụ kết nối này mà Facebook không phải trả đồng nào.

2. Facebook chỉ có thể xảy ra ở Mỹ

Dưới chế độ tư bản ích kỷ, mọi người tự do theo đuổi lợi nhuận và ý thích của mình, không cần ai cho phép. Nếu bạn mất tiền của bạn hay của khách hàng ký gởi, thì đó là một lựa chọn tự nguyện. Thêm vào đó, văn hóa của nền kinh tế Mỹ coi chuyện thất bại là một sự kiện bình thường, không gì để bài bác.

3. Sự khép kín của các tỷ phú Facebook

Sau IPO, phần lớn các nhân viên trẻ vây quanh Zuckerberg đã trở thành triệu phú đô, kể cả anh bạn thiết kế logo cho Facebook. Các phóng viên truyền thông đã để ý đến cuộc sống khép kín bình dị của những nhà triệu phú mới này.

Sheryl Sandberg, COO, xây căn nhà nằm dưới đất trong một khu rừng để tránh những tương phản khá lớn với môi trường. Zuckerberg mua một biệt thự 6 triệu đô, sau khi thị trường định giá tài sản cá nhân anh là 32 tỷ đô.

4. Sáng tạo cần hủy diệt để tiến bộ

Kiếm tiền theo định chế thị trường vô cùng vất vả. Vừa mới đăng quang, Facebook đã phải đối diện với bao cạnh tranh, cũng như các lời tiên đoán về số tuổi của mình. Đe dọa lớn không chỉ là nhà khổng lồ Google +, mà là cả ngàn công ty đang nằm trong các phòng nội trú hay các nhà để xe khắp thế giới.

5. Luôn luôn có tay đua nhanh hơn

Thực ra, mạng xã hội đầu tiên là MySpace, đã chào đời vào 2003, 2 năm trước Facebook. Khi gặp đối thủ nhanh hơn, sáng tạo hơn, nhỏ hơn, MySpace đã không cạnh tranh hữu hiệu và trở thành một viên gạch lót đường cho Facebook và các mạng xã hội khác như YouTube.

6. Càng lên cao càng té nặng

Từ góc nhìn của tôi, Facebook là một biểu hiện rất trung thực của nền kinh tế thị trường. Sự thành công của Facebook là một mô hình kinh doanh sáng tạo, nắm bắt nhu cầu thị trường nhanh chóng và luôn cải tiến để thỏa mãn khách hàng, xây dựng một thương hiệu đẳng cấp.

Nhưng nền kinh tế thị trường cũng đẩy ra những cạnh tranh khốc liệt liên tục, từ các địch thủ cũ như Google+ đến những doanh nhân mới chưa ai biết đến. Và trong nền kinh tế thị trường, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Nếu Facebook có thể đạt thị giá 100 tỷ đô la trong 8 năm thì cũng có thể mất 32 tỷ đô la về thị giá chỉ trong 20 ngày.

Bài học Facebook có thể dạy các nhà lãnh đạo kinh tế thế giới về một môi trường cần có để tạo dựng những công ty đột phá. Còn nếu cứ khư khư ôm giữ những định luật thời đồ đá, người dân của họ sẽ biến thành những con thạch sùng chỉ biết thở dài trong đêm tối.

Năm nguyên lý cho một nền kinh tế thực

Những khôn ngoan này đã được truyền lại từ cha ông và được minh chứng qua bao thời đại lịch sử. Tôi gọi chúng là các nguyên lý bất diệt của một nền kinh tế thực:

1. Dân có giàu, nước mới mạnh

2. Phải có hủy diệt mới có sáng tạo

3. Giá thị trường luôn luôn chiến thắng

4. Giấy tờ hay lời nói không thể sản xuất được giá trị

5. Cha chung không ai khóc.

Giải pháp “Giấu bụi dưới thảm”

Giải pháp của Mỹ

Được áp dụng khá thành công tại Mỹ khi Cục dự trữ Liên bang (Fed) bơm tiền cứu các ngân hàng, bắt đầu với gói QE 1 vào 2008, và liên tục in tiền với QE 2 và sắp cho ra QE 3 trong vài tháng tới. Kết quả là Fed đã cứu được hệ thống ngân hàng mà không phải trả giá bằng lạm phát và lãi suất.

Cuối cùng, nhờ sự năng động của nền kinh tế thị trường và những sáng tạo của tầng lớp doanh nhân trẻ, nền kinh tế Mỹ cho thấy vài tín hiệu của sự hồi. Nhưng ngoài điểm sáng này, tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao, giá địa ốc vẫn suy giảm, nợ công và tư vẫn đầm đìa và lạm phát vẫn là một đe dọa qua giá dầu và lãi suất.

Nói tóm lại, nhờ vài viên aspirin, bệnh nhân đã quay lại sở làm việc, nhưng cái ung thư trong gan ruột vẫn chờ ngày giải phẫu.

Đây là chiến thuật mà người phương Tây gọi là “giấu bụi dưới thảm” (swept under the rug) hay “đá cái thùng (rác) xuống cuối đường” (kick the (trash) can down the road). Tạm ổn, nhưng một ngày nào đó, trong nhiệm kỳ mới, có lẽ một người nào khác sẽ phải làm cái việc dơ bẩn là hốt bụi hay đổ rác.

Liên hệ với Việt Nam

• Dù chịu nhiều thách thức, đồng đô la vẫn là bản vị chính trong các thanh toán quốc tế. Không ai quan tâm đến đồng Việt Nam.

• Nền kinh tế Mỹ phần lớn vẫn dựa trên vận hành thị trường. Trong khi đó, đầu tàu của kinh tế Việt vẫn là những doanh nghiệp nhà nước, với sự bảo bọc của đặc quyền, đặc lợi.

• Doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam vẫn chiến đấu bền bỉ trong trận bão hiện nay. Trong khi đó, doanh nhân Mỹ chỉ chịu lãi suất khoảng 6%, lạm phát 2%; nên sự hồi phục xảy ra nhanh chóng hơn.

• Thêm vào đó, đầu tư FDI và FII vào Mỹ lại gia tăng trong các khủng hoảng kinh tế toàn cầu vì sự ổn định và minh bạch của cơ chế quản lý. Các suy giảm về FDI và FII của Việt Nam là những tín hiệu ngược lại.

• Trong khủng hoảng tài chính năm 2008 do nợ xấu từ suy sụp của giá bất động sản, các ngân hàng Mỹ đã công khai các số liệu và tình trạng các sản phẩm tài chính để chính phủ Mỹ và các nhà đầu tư có thể đánh giá (stress test) khả năng sinh tồn của mình.

Mọi biện pháp của Chính phủ Việt Nam và các nhóm sở hữu ngân hàng vẫn diễn ra sau bức màn, nên không ai bên ngoài có thể tiên đoán bất cứ điều gì về vấn đề hay diễn biến.

Liệu Việt Nam có thành công (dù tạm bợ) như Mỹ trong bài toán kinh tế hiện tại?

Phần 2: Vấn nạn kinh tế xã hội
Hai yếu kém chết người của doanh nhân Việt

Theo góc nhìn của chúng tôi, hai khuyết điểm của đa số doanh nghiệp Việt rất dễ xác nhận: một là khả năng quản trị tài chính và hai là rủi ro về đạo đức kỷ cương.

Đòi hỏi căn bản trong việc quản lý tài chính

Một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, hình thành bằng sự góp vốn của cổ đông đại chúng hay thành viên trong gia đình, đều phải lưu tâm và tìm giải pháp cho các nhu cầu về quản trị tài chính sau đây:

Dòng tiền (cash flow) cho doanh nghiệp. Rất dễ hiểu: tiền thu vào phải luôn luôn nhiều hơn tiền chi ra.

Thành quả tài chính. Nếu dự đoán thu luôn nhiều hơn chi trong 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm, thì tài chính doanh nghiệp có thể nói là vững vàng, không nhiều lo ngại.

Kỷ luật tài chính.
 Ngân sách đề ra phải được mọi bộ phận tuân thủ và thực thi; mọi điều chỉnh phải được điều nghiên chính xác; kể cả việc cắt giảm hay gia tăng vì sự cố bất thường.

Dự đoán nhu cầu tương lai.
 Người quản lý tài chính phải phân tích mọi chỉ số đầu tư dựa trên dự đoán và phải đồng ý về tính khả thi.

Mọi phát triển đều cần vốn đầu tư, từ tiền lời tích lũy nội bộ, tiền vay hay tiền góp vốn từ các cổ đông bên ngoài. Người quản lý tài chính theo đúng vai trò phải duyệt khán và đồng ý với kế hoạch phát triển này ít nhất 6 tháng trước đó, và phải lo liệu phần vốn đầy đủ trước khi tiến hành khuếch trương dự án.

Một nguyên lý quan trọng khác là đừng bao giờ dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn.

Báo cáo và kiểm toán

Rất ít doanh nghiệp Việt đạt được chỉ tiêu cao trong cả 5 vấn đề căn bản trên, ngay cả những công ty đã niêm yết trên sàn nhiều năm. Tại đây, vai trò của Giám đốc tài chính (CFO) rất mờ nhạt và quyền hành chi thu ngân sách, quyết định đầu tư, đôi khi ngay cả việc soạn thảo báo cáo tài chính cũng thường nằm gọn trong tay Tổng giám đốc (CEO) hay bà vợ của ông ta.

Khi quỹ đầu tư nước ngoài đến thăm cơ sở của khách hàng, người chúng tôi muốn nghe nhiều nhất là vị CFO. Các vị CEO thường chỉ lặp đi lặp lại những gì chúng tôi đã đọc trên brochure hay website, không gì mới lạ.

Các chi tiết về số liệu và cách thức quản trị tài chính cho chúng tôi một tầm nhìn chính xác và chiến lược hơn về công ty. Tiếc thay không mấy doanh nghiệp Việt thấu hiểu điều này.

Đòi hỏi căn bản về đạo đức kỷ cương

Một khía cạnh yếu kém khác là sự cẩu thả, vô tâm của doanh nhân Việt trong việc xây dựng một văn hóa công ty dựa trên căn bản dài hạn, đạo đức và chuẩn mực cao cấp.

Việc thể hiện “giá trị mềm” của doanh nghiệp thường thu gọn vào các PR hay lễ hội hoành tráng phô trương, đánh bóng cho tên tuổi cá nhân… thay vì cho nhu cầu của khách hàng, sáng tạo của sản phẩm hay sự bền vững của thương hiệu.

Tầm nhìn dài hạn và tập trung

Người quản lý doanh nghiệp phải biết rõ tầm nhìn và giới hạn của công ty để có một kế hoạch phát triển lâu dài và bền vững.

Sự thỏa mãn của khách hàng

Khách hàng là tài sản lớn nhất của doanh nghiệp. Vì nền kinh tế Việt dựa trên ban phát bổng lộc của quan chức, các doanh nhân Việt thường có cái nhìn méo mó về ưu tiên phục vụ. Đó cũng là lý do tại sao các doanh nghiệp lớn của Việt Nam vẫn chưa đủ khả năng để cạnh tranh trên biển lớn.

Tôn trọng các cổ đông thiểu số

Mỗi công ty, dù có viết ra thành văn bản hay không, phải có một cương lĩnh để mọi thành phần nhân viên theo đó mà vận hành. Một yếu tố quan trọng trong cương lĩnh là sự tôn trọng quyền lợi của các cổ đông yên lặng (silent) hay thiểu số (minority).

Nhiều vị quản lý Việt không hiểu rằng tiền góp vốn từ chính phủ (DNNN), hay cổ đông công chúng (public) hay quỹ và các nhà đầu tư cá nhân, ngay cả vốn vay từ ngân hàng, đều là tiền của người khác (OPM), không phải tiền của riêng mình.

Đào tạo và thăng tiến đội ngũ nhân viên

Hai vũ khí mà các doanh nghiệp Việt hay thiếu sót so với nước ngoài là các chương trình huấn luyện liên tục, và các quyền mua cổ phiếu (options) để gài buộc nhân viên vào với công ty trong hợp tác lâu dài.

Nhưng trên hết, ban quản lý phải đối xử công bằng trong mọi hành động và phán đoán, không phân biệt liên hệ gia đình hay xã hội, hoàn toàn dựa trên kỹ năng và thành quả của nhân viên.

Lợi ích cho xã hội và nghĩa vụ với mọi người

Những tệ nạn gây ô nhiễm trong không khí, trên sông biển, thấm vào các mực nước ngầm, việc xử lý rác thải, rác y tế nguy hiểm, tiếng ồn và an toàn giao thông… là những kỷ cương không những chỉ quan trọng trên phương diện pháp lý mà còn là một nghĩa vụ để thể hiện đạo đức của doanh nghiệp.

Nói tóm lại, trên luật pháp của người, còn có luật pháp của “trời”. Của cải, danh vọng, ngay cả quyền lực, đều là tạm bợ. Chúng ta chỉ hạnh phúc và doanh nghiệp chỉ có thể “thành công” khi chúng ta tuân thủ luật trời, dựa trên bất cứ tín ngưỡng hay niềm tin nào.

Đầu tư đa ngành là căn bệnh hoang tưởng

Đầu tư đa ngành chẳng khác nào cho người bệnh ở cùng với người khỏe để thành dịch bệnh nguy hiểm. Tôi không thấy có lợi thế nào. Một anh chuyên làm thực phẩm mà đòi mở trường đại học, anh làm khoáng sản lại đi mở khách sạn… Người nước ngoài họ nghe những câu chuyện này thấy rất buồn cười, khôi hài bởi có biết gì đâu mà làm.

Nếu doanh nghiệp đã tốt thì nên đầu tư để khuếch trương lĩnh vực kinh doanh cốt lõi thay vì đi nuôi nhiều công ty con yếu. Nguyên tắc kinh doanh căn bản là không ném đồng tiền tốt vào cùng với những đồng tiền xấu.

Ở Mỹ gần như không còn công ty đa ngành nào. Còn ở thị trường Á Châu thì vẫn còn nhưng dần dần sẽ lụn bại bởi khó quản lý nổi.

Gốc rễ của thành và đạt

Theo tôi hiểu, chữ “thành đạt” gộp lại 2 phần chính: thành công trong công việc và đạt đến mục tiêu của cá nhân trong sự nghiệp. Nó xác định đỉnh cao của con người.

Tuy nhiên, mỗi cá nhân đều có những đẳng cấp khác nhau, nên mục tiêu để “đạt đến” cũng rất khác biệt. Do đó, cái “đạt” của người này có thể là cái “thua” của người khác.

Còn phần “thành” thì càng bấp bênh hơn vì những thành công lâu dài và bền vững rất hiếm khi xảy ra trong thương trường hay đời sống. Tiền bạc, quyền lực, danh vọng, ngay cả tình yêu… đến rồi đi, có rồi không. Với thời gian, mọi thành công đều là tạm bợ.

Tôi luôn nghĩ là một con người khi vượt khỏi những nhu cầu hối thúc về cơm áo và có chút tự do, giá trị đẳng cấp của họ phải được định lượng trên 6 khía cạnh để được tạm gọi là thành đạt: Sức khỏe, tinh thần, trí tuệ, xã hội, tiền bạc và tâm linh.

Trong con người “không thành đạt” của tôi, một điều luôn làm tôi hạnh phúc: cái tâm linh bình an và giác ngộ. Tôi học cách tha thứ cho mình, cho người; tôi không ghen tị giận hờn với ai hay với hoàn cảnh nào; tôi biết ơn và biết yêu thương, trân trọng từng niềm vui nho nhỏ đến với đời sống mỗi ngày.

Cái đích thành đạt có lẽ không bao giờ đến, nhưng có phải các triết gia đã khuyên ta, mục tiêu “không phải là điểm đến mà là cuộc lữ hành” (the voyage, not the destination)?

Chiến thuật du kích thời Internet

Lối kinh doanh du kích cũng tốn khá nhiều giấy mực trong giới nghiên cứu. Tôi hoàn toàn đồng ý về tác dụng của chiến thuật du kích trong nhiều trường hợp làm ăn; đặc biệt là khi chúng ta còn non trẻ và cố gắng để sống còn.

Nhưng khi tư duy của người quản lý bị giới hạn bởi tầm nhìn du kích thì doanh nghiệp chỉ có thể trở thành một tiểu thương, dù thành công trong việc kiếm tiền cho cá nhân và gia đình.

Điểm yếu của việc kinh doanh du kích chính là mặt trái của những yếu tố đã tạo sức mạnh cho chiến thuật này.

Vì nghĩ là mình nhỏ bé và phải né tránh các đối thủ, nên doanh nhân du kích thường ngại ngùng khi ra biển lớn để cạnh tranh trực tiếp trong một môi trường xa lạ.

Yếu kém khác là sự năng động không cân đối. Vì quá năng động, doanh nhân du kích chụp lấy cơ hội mới không ngần ngại, gây ra nhiều đầu tư dàn trải.

Tư duy du kích cũng phát sinh một văn hóa mù mờ, không minh bạch và có thể chứa đựng nhiều gian trá.

Trong chiến thuật, sinh mạng của du kích quân cũng tùy thuộc rất nhiều vào mức độ tin cậy vào đồng đội, đối tác và các quan hệ mật thiết. Đó là lý do doanh nghiệp du kích thường dùng “gia đình trị”, vì không đủ tin cậy người ngoài để sử dụng nhân tài, không làm ăn rõ ràng với người lạ, và coi quan hệ với quan chức là cột sống quan trọng hơn sản phẩm, khách hàng, hay kế hoạch phát triển.

Tệ nhất trong tư duy du kích là một biện hộ thông dụng khi gây nên những sai trái về quản trị cũng như đạo đức. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã than phiền về những thủ đoạn ngắn hạn này của doanh nhân Việt và cũng là cá tính khá phổ thông ở Trung Quốc.

Những hàng xuất khẩu từ Việt Nam hay Trung Quốc thường mang tiếng xấu này trong giới mua hàng, từ áo quần giày dép đến đồ gỗ hay thực phẩm. Nó gây cho đối tác cảm giác là không doanh nhân Việt nào muốn làm ăn trung thực và lâu dài.

Phần 3: Tư duy về giải pháp
Hãy để chúng chết đi

Năm 1976, New York ngập chìm trong công nợ vì chính quyền thành phố liên tục tiêu xài cho những chương trình gọi là “xã hội” và cho “phe nhóm”. Ngân sách gia tăng cùng hệ thống quan chức và sưu cao thuế nặng khiến các doanh gia bỏ chạy khỏi New York.

Đối diện với thảm họa phá sản, thành phố kêu gọi chính phủ liên bang cứu trợ khẩn cấp. Tổng thống Ford trả lời với một câu nói đi vào lịch sử, “Drop Dead” (Hãy chết đi). Hơn 90% dân Mỹ hoan nghênh quyết định sáng suốt này.

Các giải pháp cho kinh tế Việt

Chưa bao giờ tôi thấy các chuyên gia Việt Nam hăng hái và bận rộn như lúc này. Ngày nào cũng có vài ba giải pháp trên các báo cho đủ mọi vấn đề kinh tế.

Và chưa bao giờ các thành phần kinh tế lại khóc than ỉ ôi như thế này. Ai cũng xin chính phủ cứu giúp với OPM (tiền người khác) và tốt nhất là “cho luôn” thì khỏi phải hạch toán lôi thôi.

Tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng

Thực ra, các thành phần kinh tế của mọi quốc gia cũng giống như lũ trẻ. Họ thích tạo những quấy phá ồn ào để nhận những ban phát “miễn phí” từ các nguồn lực tài chính hay hành chính. Khi họ biết chắc chắn rằng những ân huệ này sẽ không đến, họ sẽ phải chịu đựng và tìm giải pháp khác, sáng tạo từ trí óc, con tim và ý chí.

Giải pháp của Alan

Cho nên, nếu các bác hỏi tôi về nợ xấu, tôi sẽ nói “Hãy để chúng chết đi”. Ngân hàng nhà nước chỉ cần bảo đảm khoảng 100 triệu đồng tối đa cho mỗi người gửi tiền, và chúng ta có thể chấp nhận sự sụp đổ của vài chục ngân hàng không hề hấn gì.

Hỏi về các doanh nghiệp bất động sản, tôi sẽ nói “Hãy để chúng chết đi”. Các căn hộ và các lô đất sẽ bị hạ giá rẻ mạt, tạo một cơ hội tuyệt vời cho những người dân có thu nhập trung bình.

Hỏi về các doanh nghiệp nhà nước, tôi sẽ nói “Hãy để chúng chết đi”. Dòng tiền OPM đã cạn kiệt. Các anh chị nào có lãi thì cứ tiếp tục. Còn lỗ lã thì tôi bán ngay cho các nhà đầu tư, nội hay ngoại.

Trên hết, mọi đặc lợi đặc quyền sẽ chấm dứt. Chỉ khi đối diện thực sự với cạnh tranh thị trường, chúng ta mới biết ban quản trị nào có trí tuệ và đủ lực để sinh tồn.

Sự hủy diệt trong sáng tạo

Nhiều thân hữu sẽ hỏi tôi là ông không lo ngại gì về những xáo trộn xã hội và nạn thất nghiệp khi các công ty thi nhau lăn ra chết? Tôi xin thưa rằng không!

Một giải pháp thật đơn giản mà tôi đề nghị lên các bác lãnh đạo kinh tế là “đừng làm gì cả”. Hãy tin dân và giao quyền lại cho các doanh nghiệp tư nhân tự ứng xử. Trong sáng tạo và hồi sinh sẽ có mồ hôi và nước mắt.

Trong quá trình trưởng thành, các em thường phải chịu nhiều gian truân đau đớn. Vài em sẽ không qua khỏi. Nhưng đây là định luật của thiên nhiên.

Hãy để thị trường quyết định

Điểm yếu của nền kinh tế trong những năm qua thấy rõ nhất là ở hệ thống ngân hàng và bất động sản. Nếu áp dụng tiêu chuẩn thế giới vào Việt Nam thì đa số ngân hàng chúng ta không đạt chuẩn.

Giá bất động sản thì quá cao, cao hơn ở Mỹ, đó là thực tế không thể chấp nhận. Thu nhập của người dân Mỹ hơn Việt Nam đến 40 lần nhưng giá nhà đất của họ rẻ hơn chúng ta đến hơn phân nửa.

Điều này phải được điều chỉnh. Khi điều chỉnh thì có doanh nghiệp trắng tay, nhưng phải chấp nhận. Hãy để cho thị trường quyết định sự sống còn của doanh nghiệp.

Những chính sách của chính phủ ban ra chỉ là điều chỉnh và làm trọng tài. Chúng ta đã tham gia sân chơi thế giới, mua của thế giới và bán cho thế giới thì nên để thị trường quyết định tất cả.

Trong cái rủi, có cái may

Từ những điểm yếu đó mà Việt Nam xuất hiện những điểm sáng sau đây:

Thứ nhất, khi tôi về Việt Nam năm 2006 thì nhận thấy các doanh nhân rất hưng phấn, hưng phấn quá thì dẫn đến ngạo mạn, xem ta là nhất. Sở dĩ như thế vì họ kiếm tiền quá dễ, đụng vào chứng khoán thì giàu, dụng vào bất động sản thì càng giàu to.

Do đó họ không cần suy nghĩ, không cần đầu tư vào máy móc, công nghệ và con người. Những năm qua, kinh tế khó khăn nên họ đã thay đổi cách kinh doanh, họ biết đầu tư giá trị, đầu tư vào con người.

Thứ hai, trước đây doanh nhân làm ăn dựa trên mối quan hệ, từ đó sinh ra tham nhũng, nhũng nhiễu. Nhưng khi họ làm ăn khó khăn thì không thể chi phong bì vô tội vạ.

Do đó tham nhũng sẽ ít đi, môi trường trong sạch hơn, chính sách thông thoáng hơn, quan hệ giữa doanh nhân và chính quyền đẹp hơn.

Thứ ba, bội chi ngân sách sẽ giảm, thu chi ngân sách lành mạnh.

Thứ tư, giá bất động sản giảm từ 30 – 50%. Đây là cơ hội cho tầng lớp trung lưu có nhà cửa. Tầng lớp này phát triển bền vững và ổn định hơn.

Thứ năm, người dân không còn vung tay quá trán. Họ bớt tiêu xài, hạn chế mua xe xịn, đồ xa xỉ…

Tất cả điều này tạo nên sinh khí mới. Nếu doanh nghiệp và chính phủ biết nắm bắt những cơ hội này thì những năm tới Việt Nam sẽ phát triển bền vững. Khủng hoảng cũng giống cơn bão mạnh quét sạch những bụi bặm để ngày mai tươi sáng hơn.

Những đầu tư hấp dẫn cho thập kỷ mới

Tôi còn nhớ khoảng 1984 khi tôi gặp James DeRosa lần đầu. Ông ta vừa phá sản, vợ ly dị, dọn vào một căn hộ bình dân sau 20 năm sống ở BelAir (khu tỷ phú của Los Angeles).

Ông bán cho tôi một miếng đất nhỏ ở Riverside, kể vài câu chuyện khôi hài: “Tôi chỉ đầu tư vào ngựa và đàn bà. Tiếc là ngựa đua thì chạy chậm mà đàn bà lại chạy nhanh, nên tôi mới ra nông nỗi này”.

Câu nói ấn tượng sau đó là, “tôi bị phá sản, nhưng không bao giờ nghèo”.

Lúc đó, Mỹ đang ở vào giai đoạn suy thoái và lạm phát, bong bóng bất động sản và chứng khoán vừa nổ, thất nghiệp cao… James cười nói, “Bao nhiêu là tài sản sắp phải thay đổi chủ. Thật tuyệt vời!”.

Ông lên lại kế hoạch cho sự nghiệp và chỉ 10 năm sau, trở lại ngôi vị tỷ phú.

Chu kỳ mới của thị trường

Trong một nền kinh tế thực sự thị trường, doanh nhân luôn phải đối diện với những chu kỳ lên xuống (Mỹ gọi là boom và bust). Vì chiếc ghế quyền lực, các chính trị gia thế giới kể cả Âu Mỹ cũng cố gắng tìm đủ mọi cách để can thiệp hầu ngăn chặn hiện tượng này.

Họ có thể thành công trong vài ba tháng, vài ba quý, nhưng thị trường luôn luôn là kẻ chiến thắng sau cùng. Ở một nền kinh tế thị trường thực sự, không có phép màu, không có ảo thuật, không có nhiệm kỳ…

Tài sản mới cho lớp doanh nhân mới

Tại Việt Nam, chu kỳ kinh tế trước và sau khi gia nhập WTO đã đem lại quá nhiều cơ hội và tài sản cho những tỷ phú bất động sản, chứng khoán, cò dự án, nhân viên DNNN được cổ phần hóa… Chu kỳ mới sẽ đem nhiều cơ hội cho những ngành nghề khác và sẽ tạo những tỷ phú mới.

Tư duy tạo nên định mệnh. Đây là thời điểm ngoạn mục và hấp dẫn nhất để làm ăn ở Việt Nam hay tại bất cứ một nền kinh tế mới nổi nào khác.

Dĩ nhiên tôi phải nói một điều nghe rất ấu trĩ nhưng hoàn toàn chính xác: There is no free meal (Không có bữa ăn nào miễn phí). Cái gì cũng đều phải trả giá, và để làm một đại gia của chu kỳ mới, các bạn sẽ phải hiểu là cơ hội càng lớn thì rủi ro càng nhiều và công sức bỏ ra cũng phải tương xứng.

Có tiền hay không có tiền, đang làm ăn hay mới có ý định khởi nghiệp, có quan hệ tốt hay không, muốn đầu tư tài chánh hay tự đứng ra kinh doanh, cơ hội trong mọi ngành nghề đều tràn ngập và sẵn sàng.

Tất cả chỉ cần 2 điều mấu chốt: một đầu óc sáng tạo để tìm ra một đặc thù về lợi thế cạnh tranh; và một ý chí như ngọn lửa bất diệt để trả giá và mang ý tưởng đến thành công.

Năm yếu tố cần có cho mọi doanh nhân: ngọn lửa đam mê, lợi thế cạnh tranh, kiến thức và quan hệ, sức khỏe và tinh thần cũng như ý chí và kiên nhẫn để vượt bão. Vì 70% doanh nghiệp thất bại sau 2 năm khởi nghiệp, sự chuẩn bị bài bản cho một kế hoạch kinh doanh là điều thiết yếu.

Hai ngành nghề mà tôi đặc biệt quan tâm vì tôi cho là hai động cơ sẽ phát ngòi cho sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nhờ các lợi thế cạnh tranh rất cao là IT và nông nghiệp.

Tôi tin rằng một doanh nhân trẻ tìm ra một mô hình kinh doanh sáng tạo và dồn hết tâm trí nội lực của mình liên tục trong 5 năm, sẽ nhất định trở thành một triệu phú đô la.

Quên chuyện ăn nhậu, quên chuyện thất tình trai gái, quên chuyện bạn bè bàn ra tán vào, quên chuyện sĩ diện… chỉ biết một mục đích duy nhất là công việc của mình, không bỏ cuộc hay thất vọng, không phân tán tài lực với những hoạt động ngoài luồng, không suy nghĩ xa xôi hay lầm lạc. Chỉ đơn giản có thế.

Tự tin để vượt bão

Không phải tự tin, mà phải là thay đổi để vượt bão. Can đảm để tiếp tục chịu đựng có thể đồng nghĩa với ngu xuẩn, bởi vì cái can đảm thực sự cần thiết là can đảm để thay đổi.

Với các doanh nghiệp tư nhân, cơn bão sắp đến có thể là một xúc tác để làm một quyết định quan trọng. Nếu thấy nội lực dồi dào và tài chính sung mãn, hãy bắt tay vào một chương trình phát triển mạnh mẽ và gây thêm vốn cho nhu cầu sắp tới.

Nếu chúng ta chỉ vừa đủ mạnh để sống sót, hãy cố gắng chỉnh sửa những yếu kém và tìm thêm đối tác chiến lược để tăng nội lực cho tương lai. Với những doanh nghiệp trên bờ phá sản, hãy minh bạch với mọi chủ nợ, khách hàng và xin họ giúp đỡ để cùng nhau vượt khó. Trên hết, phải minh bạch với chính mình về khả năng sống còn.

Ngành nghề sẽ biến thể sau cơn bão

Nếu cơn bão đến, thì đây là những ngành nghề sẽ phải thay đổi và biến dạng từ căn cơ:

• Bất động sản

Giá cả sẽ phải xuống theo trọng lực của hai yếu tố thị trường: thu nhập của người dân và lượng tiền đầu cơ thứ cấp.

• Ngân hàng

Được sự chống lưng của nhà nước để tránh bất ổn xã hội, cổ đông các ngân hàng sẽ an toàn với vốn đầu tư.

Về lâu dài, sự hợp tác với các đối tác nước ngoài sẽ đem lại những thay đổi lớn không những về mặt tiếp thị, hậu mãi cho khách hàng; nhưng qua các hoạt động hàng ngày, nhóm quản trị mới sẽ áp lực để thay đổi điều lệ và sự kiểm soát từ chính phủ; khiến bộ máy điều hành ngành tín dụng thiết yếu cho tài chính quốc gia trở nên hiện đại và hiệu quả hơn.

• Chứng khoán

Chứng khoán chạm đáy là thời điểm để các nhà đầu tư còn tiền gỡ gạc lại các mất mát mấy năm vừa qua. Nhưng sự hồi phục đúng nghĩa để qua một chu kỳ mới phải kéo dài hơn 2 năm.

Với sự mở rộng từ căn bản điều hành, trái phiếu và hợp đồng tài chính của Việt Nam sẽ xuất hiện trở lại trên thị trường quốc tế, đem lại nguồn vốn mới cần thiết cho doanh nghiệp trong nước.

• Vàng bạc nữ trang

Với chính sách “góp vốn từ dân” qua kênh vàng và đô la, chính phủ sẽ truy bắt những người còn kinh doanh hay lưu trữ hai sản phẩm này.

• “Cò” quan hệ

Đây là một ngành nghề làm ăn rất khả quan và chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP ngầm. Họ cũng là nhóm đầu tư có nhiều tiền nhàn rỗi và tạo nhiều đầu tư quan trọng trong các ngành nghề.

Trên cùng bình diện, các ngành nghề liên quan đến 5 lĩnh vực kinh doanh nói trên sẽ chịu ảnh hưởng xấu theo. Ngành xây dựng và vật liệu sẽ suy thoái theo bất động sản; các ngành nghề tài chính sẽ bớt đầu tư vào công nghệ thiết bị mới gây ảnh hưởng xấu cho IT nội địa; việc cấm vàng và đô la sẽ tạo một tâm lý bất ổn chung cho các cơ sở xuất nhập khẩu.

Trong khi đó, những ngành nghề ít bị ảnh hưởng nhất là y tế, giáo dục, năng lượng, khoáng sản, nông hải sản và sản phẩm tiêu dùng thiết yếu.

Kiếm 1 triệu đô la trong 5 năm

Bạn không cần một bằng cấp hay học vị nào. Bạn sẽ cần kiến thức, nhưng đó là loại tri thức được trau dồi, thu thập hàng ngày qua những trải nghiệm thực tế.

Bạn sẽ phải nghiên cứu, phân tích mỗi ngày đủ loại dữ kiện về công nghệ, quản lý, tài chính, tiếp thị… nhiều gấp 3 – 4 lần số giờ học tập của một sinh viên MBA chính quy. Sẽ không có thi tuyển, nhưng mỗi lần bạn sơ hở, quên làm bài và “thi trượt”, thì kết quả sẽ hiển thị bằng một cái giá vô cùng đau đớn.

Bạn không cần một lý lịch tốt. Bạn cũng không cần một dự án kiểu sao chép với đủ loại dấu xanh dấu đỏ. Bạn chỉ cần một sản phẩm đặc thù sáng tạo, đủ khả năng để cạnh tranh trên bất cứ thị trường nào, và một kế hoạch kinh doanh bài bản làm các nhà đầu tư sửng sốt khi đọc.

Bạn có thể ở vào lứa tuổi 20 hay 30 hay 60 hay 70. Tuổi tác không quan trọng, nhưng sức khỏe, lòng đam mê và ý chí vượt bão phải thật đầy đủ.

5 điều kiện mấu chốt

1. Động lực, lòng tham và ngọn lửa trong người. Đi đến đích hay bỏ cuộc là do ngọn lửa này.

2. Lợi thế cạnh tranh. Sản phẩm kinh doanh phải mang tính sáng tạo, độc đáo và tạo một lợi thế cạnh tranh chắc chắn.

3. Sức khỏe để đối phó với áp lực. Nếu không có một thân thể khỏe mạnh để giữ tinh thần sáng suốt, bình tĩnh thì không thể hoàn tất công việc quản trị.

4. Liều lĩnh, dám làm, dám chấp nhận rủi ro. Tỷ lệ rủi ro trong kinh doanh quá cao. Một người giỏi về toán và thống kê sẽ không làm doanh nhân.

5. Kinh nghiệm, quan hệ, kiến thức. Nếu chưa có những yếu tố này thì phải lo tạo dựng cho đầy đủ trước khi ra trận mạc.

Với 5 yếu tố mấu chốt ở trên, bất cứ một hành trình kinh doanh nào cũng sẽ đến đích, không sớm thì muộn, tùy vào tầm cỡ của dự án. Tôi dùng công thức 5 năm cho một tài sản khoảng 1 triệu đô la vì tôi dựa trên một tỷ lệ P/E (giá/lợi nhuận) trung bình là 7; hay một dòng tiền lợi nhuận hàng năm khoảng 150 ngàn đô la.

Các rào cản và thử thách

Những doanh nhân Việt thường vấp phải các lỗi lầm phổ thông như đầu tư dàn trải (vì cơ hội làm ăn rất nhiều); hay che giấu những thất bại lầm lỡ; không có kỷ luật nghiêm minh về vấn đề chi tiêu tài chính; thiếu đạo đức và kiên nhẫn trong việc xây dựng thương hiệu và kỷ cương công ty; không tôn trọng khách hàng, đối tác, cổ đông hay địch thủ; sử dụng người theo tình cảm gia đình hay phe nhóm.

Vượt qua các rào cản này là bạn đã đi xa hơn 90% các đối thủ cạnh tranh và có ít nhất là 80% để đạt mục tiêu hay tiến xa hơn nữa.

Xác xuất thành công

Nhưng trên tất cả các thành quả và khó nhọc của cuộc chơi, phần thưởng lớn nhất cho các doanh nhân trẻ sẽ là một lòng tự trọng và hãnh diện vì sự đóng góp chân chính của bản thân cho xã hội. Mỗi sáng, khi soi gương, bạn sẽ không phải cúi đầu hổ thẹn cho mình hay gia đình.

Giải pháp nào cho việc tiếp cận nguồn vốn?

Tiếp cận nguồn vốn cần “biết mình, biết người”

Một lý do các doanh nghiệp Việt Nam khó tiếp cận được với các nguồn vốn là doanh nghiệp không nhìn về phía nhà đầu tư, mà chỉ quan tâm đến mình, đến ý tưởng và dự án của mình.

Vì vậy, doanh nghiệp phải chứng tỏ cho nhà đầu tư thấy năng lực quản lý của người lãnh đạo và sản phẩm cạnh tranh như thế nào trong thị trường. Đây là hai yếu tố quan trọng quyết định sự thành, bại của doanh nghiệp, cũng chính là yếu tố giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư.

Nguồn vốn có ở khắp nơi

Khi cần vốn để khởi nghiệp, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không nhất thiết cứ phải trông chờ vào nguồn vay ngân hàng. Vốn hiện hữu xung quanh doanh nghiệp. Có thể là một tài sản chưa cần dùng đến như nhà, đất, xe cộ, hàng tồn kho.

Những gì chưa thật cần thiết trong thời điểm huy động vốn có thể bán để tạo vốn. Vốn từ bạn bè, người thân, nhà cung cấp, đối tác chiến lược, hợp đồng nguyên liệu.

Quỹ đầu tư cũng là nơi khởi đầu tốt nhất cho việc huy động vốn, vì khi tiếp cận với quỹ đầu tư, doanh nghiệp sẽ được tư vấn.

Thực ra khi một doanh nghiệp lập dự án cần đến 10 tỷ tiền vốn thì nhu cầu thực sự của doanh nghiệp có thể không đến phân nửa số đó. Chẳng hạn, việc đầu tư vốn cho mặt bằng, cơ sở hạ tầng thường là chiếm rất nhiều vốn, nhưng khoản đầu tư này lại đi thuê được. Hãng Nike bán nhiều hàng thể thao nhất thế giới nhưng không sở hữu một nhà máy sản xuất nào.

Doanh nghiệp cứ kêu thiếu vốn nhưng thực tế chưa chắc đã thiếu nhiều đến như vậy. Quan trọng là doanh nghiệp phải biết tận dụng tất cả mọi nguồn lực xung quanh mình để tạo vốn trước khi nghĩ đến vay ngân hàng với lãi suất không khả thi.

Phần 4: Góc nhỏ bình yên
Vài suy nghĩ khi rời Buôn Mê Thuột

Từ máy bay nhìn xuống những vườn cà phê của Buôn Mê Thuột, tôi lại nghĩ về cái đồn điền cà phê nhỏ tôi mua ở Costa Rica 22 năm trước. Dù chỉ có 6 hectares và 9 nhân viên, mỗi năm chúng tôi đã thu hoạch hơn 7 tấn mỗi hectare.

Tất cả các con đường phía trong đều được trải nhựa hay đá rất ngăn nắp, sạch sẽ. Cơ giới được sử dụng tối đa.

Hiện nay, nông dân Việt vẫn loay hoay với sản lượng hơn 2,5 tấn mỗi hectare, và cảnh quan của đồn điền cũng như phương thức canh tác vẫn không khác gì thời Pháp thuộc.

Anh Vũ Trung Nguyên và các chuyên gia Do thái đang khuyến khích việc tưới cây và cho phân bón nhỏ giọt vào từng gốc, nhưng chưa được đáp ứng. Trong khi đó, năm 1972, chúng tôi đã giới thiệu kỹ thuật này cho các nhà vườn trái cây quanh Biên Hòa.

Tôi cũng thắc mắc là dù với đất đai rộng rãi, người dân vẫn xây nhà sát nhau, không quy hoạch, ngay ngoài mặt lộ để “vui hưởng” khói bụi và tiếng ồn?

Nhưng nói chung, người dân và môi trường sinh thái của Buôn Mê Thuột vẫn gây nhiều ấn tượng. Cùng nhau, họ đang tự khám phá mình và tìm hướng phát triển hài hòa.
Tôi tin họ sẽ thành công. Bởi vì thiên nhiên và tuổi trẻ luôn luôn là kẻ chiến thắng sau cùng.

Phong cách hưởng thụ

Vấn nạn lớn của các đại gia là họ tiêu xài đồng tiền họ chưa kiếm được, để mua những đồ chơi họ không cần, để gây ấn tượng với những người họ không ưa.

Nguyên nhân chính mà văn minh nhân loại đạt đến đỉnh hiện nay là do sự thúc đẩy của lòng tham. Những quyền lực, danh vọng và của cải của nhân loại đều phát sinh từ dục vọng.

Dù đức Phật có phán là “dục vọng là cội rễ của mọi đau khổ”, hay đức Chúa Trời có đặt “tham lam” vào mười điều răn cấm, thì con người vẫn thoải mái theo đuổi dục vọng của mình.

Tôi cũng không dấu giếm là suốt 42 năm lăn lộn trên thương trường, lòng tham vô đáy là cú hích bắt tôi phải đứng dậy tiếp tục cuộc chơi cho đến mức thành công. Dĩ nhiên, nó cũng dẫn đến nhiều thất bại điên rồ.

Tôi rất thông cảm với những khoe khoang của người đang giàu có. Sĩ diện là một văn hóa lớn và lâu đời của các quốc gia Đông Á. Thực tình, đây là một hành xử rất quen thuộc với mọi đẳng cấp thượng lưu trên thế giới.

Vì ai có tham vọng và may mắn để sở hữu những chiến lợi phẩm đều có mong ước là mọi người phải chiêm ngưỡng và ghen tị với họ.

Tuy nhiên người Âu Mỹ giỏi hơn trong việc đè nén sự phô trương quá mức thường thấy ở các đại gia Á Châu, nhất là ở những nhân vật mới giàu của các xã hội mới nổi như
Trung Quốc và Việt Nam.

Các bạn hãy nhớ là cuộc chơi nào cũng kèm theo những hóa đơn khá đắt. Thời vàng son lúc nào cũng qua nhanh và mưa bão lúc nào cũng đến sớm hơn dự đoán.

Tuy nhiên, thất bại thực sự là người bạn tốt. Nó sẽ mang bạn về với thực tại và dạy dỗ uốn nắn những kỹ năng còn thiếu sót. Nó sẽ rèn luyện cho bạn đức tính kiên nhẫn, cần cù và lòng tha thứ, nhất là cho mình.

Tôi học được từ một người bạn già và may sẵn cho mình một bộ complet thật đẹp để mặc vào khi chết. Bộ áo quần này không có túi. Nó nhắc nhở tôi rằng tôi sẽ không đem đi được gì khi trở về với cát bụi.

Phần còn lại của mình

Tôi thấy bây giờ có nhiều người đàn ông đặt ra những tiêu chuẩn rất cao trong việc tìm kiếm bạn đời, và cả phụ nữ cũng thế. Những người này đã có cuộc sống vật chất ổn định, địa vị xã hội đoàng hoàng nên họ đòi hỏi nửa còn lại cũng phải tương đương như thế.

Ở tuổi của tôi bây giờ thì có một người phụ nữ có thể giúp cho mình cảm thấy thoải mái và vui vẻ trong mọi hoàn cảnh đã là một điều gì đó tuyệt vời rồi. Tôi không nghĩ có một người đàn ông hay đàn bà “lý tưởng”, vì sau một thời gian chung sống, chúng ta đều nhận ra những ảo vọng về nhau.

Dẫu không đòi hỏi nhiều ở bạn đời nhưng tôi cho rằng phụ nữ thời nay có thể và có quyền làm bất cứ điều gì người đàn ông làm.

Do đó, những đặc tính mà tôi kính nể đều áp dụng cho cả hai phái: có tâm, trí tuệ, thành tựu, khả năng tài chính, sức khỏe, tinh thần với xã hội… Thực ra, nếu hai người ngang bằng, một người phụ nữ chiếm ưu thế hơn, vì lúc nào họ cũng ưa nhìn hơn đấng mày râu.

Đặt ra tiêu chuẩn cao như vậy không bất công với nữ giới đâu. Chúng ta phải trả giá cho bất cứ thành tựu nào. Phụ nữ cũng như nam giới đều chịu chung rất nhiều áp lực trong hành trình “tìm chỗ đứng dưới mặt trời”.

Sự chia sẻ vẫn là cần thiết

Quay lại với riêng vấn đề gia đình, dù sao đi nữa, một nguyên tắc bất di bất dịch trong hạnh phúc gia đình là sự chia sẻ. Sự chia sẻ sẽ làm cho mối quan hệ trở nên hài hoà hơn trong suốt thời gian chung sống.

Tuy nhiên, mọi điều không chỉ đơn giản là giữa hai cá nhân. Chuyện hai người còn ảnh hưởng bởi văn hóa và ngay cả quyền lực, địa vị… chưa nói đến những can thiệp của gia đình, bạn bè.

Người phụ nữ dù ở phương Tây hay ở Việt Nam nhìn chung đều bị vướng vào sự mâu thuẫn giữa ba yếu tố: gia đình, sự nghiệp và bản thân.

Mỗi người đều hưởng nhận những may mắn đến từ cuộc sống, nhiều hay ít; nhưng cái may mắn lớn nhất là nhận diện ra được cái may mắn của mình.

 

TUYẾT NHUNG – PHÚC AN (DNSG)

200 triệu USD xây dựng mạng xã hội dành cho thanh niên việt nam

Thủ tướng nhấn mạnh cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động thanh niên về lòng yêu nước, yêu Tổ quốc.

Thực hiện Quy chế phối hợp giữa Chính phủ với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, sáng nay (24/3), tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng lãnh đạo một số Bộ, ngành Trung ương đã có buổi làm việc với Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhằm đánh giá kết quả công tác đoàn, phong trào thanh thiếu nhi và công tác thanh niên trong năm vừa qua và 3 tháng đầu năm nay.

Báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Nguyễn Đắc Vinh khẳng định: Toàn Đoàn vừa tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với nhiều hình thức qua Internet, hội nghị, diễn đàn, sinh hoạt chi đoàn… đã tạo ra đợt sinh hoạt chính trị để định hướng tư tưởng, uốn nắn những nhận thức, hành vi sai lệch do thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, non yếu về bản lĩnh chính trị của một bộ phận nhỏ thanh niên.

Trong năm qua, các phong trào thi đua lao động, sản xuất, xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới… đạt nhiều kết quả thiết thực. Các cấp đoàn còn tham gia tích cực bảo đảm trật tự an toàn giao thông, hỗ trợ thanh niên hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm, trong đó đã đào tạo khởi sự doanh nghiệp cho hơn 35.000 đoàn viên, thanh niên…


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu Trung ương Đoàn (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu niên và nhi đồng cả nước nhân kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Thủ tướng đánh giá cao, biểu dương kết quả hoạt động của các cấp Đoàn, nhất là trong làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động thanh niên; tổ chức nhiều hoạt động thiết thực triển khai phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ Tổ quốc và 4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”; quan tâm xây dựng Đoàn, Đội, Hội và mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên… Qua đó chăm lo bảo vệ thiết thực, hiệu quả hơn lợi ích chính đáng của thanh thiếu niên; nâng cao vai trò, vị trí, uy tín của Đoàn thanh niên; phối hợp hoạt động giữa Trung ương Đoàn với Chính phủ cũng ngày càng tốt hơn.

Để đáp ứng yêu cầu mới ngày càng cao, Thủ tướng cho rằng, hơn lúc nào hết Trung ương Đoàn cần đặc biệt quan tâm, làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động thanh niên mà trước hết là về lòng yêu nước, yêu Tổ quốc, dân tộc và chế độ; giáo dục trách nhiệm của thanh niên đối với tổ quốc, đất nước và dân tộc, trách nhiệm đối với gia đình và chính bản thân mình.

Thủ tướng cũng mong muốn Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đẩy mạnh cụ thể hóa phong trào 5 xung kích, 4 đồng hành trên cơ sở sơ kết, đánh giá và phát huy, nhân rộng các hoạt động, phong trào thiết thực, đồng thời kịp thời điều chỉnh những vấn đề nảy sinh để các hoạt động và phong trào này luôn mang sắc thái của thanh niên là năng động, sáng tạo và đi đầu.

Thủ tướng khẳng định: Chính phủ đã, đang và tiếp tục ủng hộ trên tinh thần hiệu quả và thiết thực đóng góp vào nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước. Thủ tướng cũng đề nghị Trung ương Đoàn tiếp tục tập trung xây dựng Đoàn, Hội, Đội vững mạnh, tránh hình thức ngay từ cơ sở với chất lượng cả về ý chí, tinh thần, đạo đức và nhân cách; tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cấp đoàn và các cấp chính quyền để cả hai bên hoạt động hiệu ngày càng quả hơn.

Thủ tướng yêu cầu Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông sớm triển khai xây dựng mạng xã hội Thanh niên với kinh phí khoảng 200 triệu USD.

Cũng tại buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng lãnh đạo một số Bộ, ngành Trung ương đã nêu ý kiến đối với các kiến nghị, đề xuất của Trung ương Đoàn liên quan đến Đề án thành lập Quỹ hỗ trợ thanh niên nông thôn lập nghiệp; Đề án “Quy hoạch các khu di tích lịch sử của Đoàn, Đội và thanh niên; kinh phí mua báo Đoàn, Hội, Đội cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số vùng khó khăn.

** Cũng trong sáng nay tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gặp và nói chuyện với 10 gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2012 vừa được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Quỹ hỗ trợ tài năng trẻ bình chọn.

Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu được tổ chức bình chọn hàng năm vào dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/3. Đây là giải thưởng cao quý trong hệ thống giải thưởng của Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Từ năm 1996 đến nay đã có170 thanh niên ưu tú xuất sắc vinh dự được nhận danh hiệu này.

10 gương mặt trẻ tiêu biểu nhất năm 2012 được Trung ương Đoàn và Quỹ hỗ trợ tài năng trẻ bình chọn lần này là những tấm gương thanh niên ưu tú, xuất sắc, tiêu biểu trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Các gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2012 bày tỏ xúc động được gặp và nói chuyện với người đứng đầu Chính phủ; cảm ơn sâu sắc sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước đối với thế hệ trẻ trong học tập, lao động, sản xuất, nghiên cứu.

Các gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu hứa với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ không ngừng phấn đấu, rèn luyện, luôn sống có hoài bão, lý tưởng, tiếp tục năng động, sáng tạo đem hết tâm lực và sức lực của mình đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Bày tỏ vui mừng được gặp 10 gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu nhất năm 2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới các bạn trẻ vinh dự được nhận danh hiệu cao quý của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Thủ tướng biểu dương sự nỗ lực phấn đấu và kết quả đạt được của các gương mặt trẻ tiêu biểu trong học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cũng như trong hoạt động thể thao, văn hóa, văn nghệ và xã hội, từ thiện.

Thủ tướng mong muốn các gương mặt tiêu biểu tiếp tục phấn đấu, rèn luyện để tự hoàn thiện mình, xứng đáng với danh hiệu hiệu được trao, đồng thời góp sức xây dựng quê hương, đất nước. Thủ tướng cũng cho rằng, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Quỹ Hỗ trợ tài năng trẻ tiếp tục đẩy mạnh và nhân rộng hoạt động thiết thực này với chất lượng ngày càng tốt hơn, các gương mặt bình chọn ngày càng tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam.

10 cá nhân được nhận giải thưởng “Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2012”, gồm: Ngô Phi Long, Lớp 12 toán, Trường THPT chuyên tỉnh Sơn La; TS. Nguyễn Huỳnh Đông, Trưởng Khoa Dầu khí, Trường Cao đẳng nghề Dầu khí, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam; Hồ Vĩnh Hoàng, Công ty CP robot TOSY; Trần Thị Thuấn Hoa, xã Nam Cường, huyện Tiền Hải, Thái Bình; Nguyễn Thanh Tài, Cụm chiến đấu 1, đảo Trường Sa, Lữ đoàn 146, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân; Nguyễn Tiến Hải, Đội trưởng Đội Điều tra tổng hợp, Công an huyện Sóc Sơn, Hà Nội; ca sĩ Nguyễn Tùng Dương; ca sĩ Thái Thùy Linh; vận động viên Thể dục dụng cụ Phan Thị Hà Thanh; Đỗ Hoàng Giang, Bí thư Đoàn xã Phú Thành, huyện Tam Nông, Đồng Tháp./.

Theo Thành Chung/VOVTV

BÀI NÓI CHUYỆN CỦA GS NGÔ BẢO CHÂU – HỌC NHƯ THẾ NÀO?

Một bài chia sẻ không thể nào tuyệt hơn. Tất cả chúng ta cần đọc và suy ngẫm. Cảm ơn bạn Quân đã chia sẻ trên facebook. Cảm ơn Giáo sư Ngô Bảo Châu. Tôi mong Giáo sư có nhiều cơ hội để thực hiện những ý nguyện của mình cho đất nước Việt Nam.

Ngô Bảo Châu – Học như thế nào?
Trong khuôn khổ Chuỗi các sự kiện Cầu nối ASEAN lần thứ tư do International Peace Foundation tổ chức, chiều 13/3 tại Hà Nội, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi nói chuyện với sinh viên ĐH Bách khoa về chủ đề “Học như thế nào?”. Dưới đây là nội dung bài nói chuyện.
Tôi rất hay được các em học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh hỏi về “bí quyết học tập”. Tôi thường trả lời “Không có bí quyết gì cả. Quan trọng là niềm say mê.” Trả lời như vậy là một cách né tránh. Không sai nhưng cũng không đầy đủ. Tôi bắt buộc phải trả lời như thế khi mình chưa bao giờ suy nghĩ về vấn đề này một cách thấu đáo. Nhưng không thể nào né tránh được mãi câu hỏi này. Cũng không thể nào trút hết trách nhiệm lên đầu người khác bằng cách nói: “đây là chuyện chuyên môn của những người làm công tác nghiên cứu khoa học giáo dục”.

Điểm lại cuộc đời mình, tôi thấy cho đến thời điểm này mình không làm gì khác ngoài việc đi học, sau đó dạy học và nghiên cứu khoa học. Trong quá trình ấy, chắc tôi cũng đã từng có những suy nghĩ riêng. Chỉ có điều những suy nghĩ đó chưa bao giờ được sắp xếp lại một cách hệ thống và được diễn đạt một cách mạch lạc. Chuẩn bị cho buổi nói chuyện này là cơ hội rất tốt để tôi làm việc này, cái việc mà phải thú thật là rất vất vả nhưng hy vọng là có ích.

Tôi xin cảm ơn International Peace Foundation và trường Đại học Bách Khoa đã cùng tổ chức sự kiện này. Cảm ơn tất cả các quí vị, các bạn sinh viên, học sinh đã đến dự buổi nói chuyện ngày hôm nay. Sự quan tâm của quí vị là động cơ mạnh để tôi hoàn thành bài trao đổi này.

Dàn bài của tôi dựa vào ba câu hỏi. Thứ nhất: cái gì là động cơ căn bản cho việc học tập. Thứ hai: học chữ hay học làm người? Thú thực là tôi không thích câu hỏi này, vì nó rất mập mờ và đa nghĩa. Nhưng tôi sử dụng chính tính đa nghĩa của nó để triển khai thành các câu hỏi nhỏ xung quanh việc học cái gì? Câu hỏi cuối cùng làm thành nhan đề của bài nói chuyện này: học như thế nào? Tôi không có tham vọng đưa ra câu trả lời thấu đáo, đầy đủ cho cả ba câu hỏi trên, mà chỉ có ý định sắp xếp lại những suy nghĩ tản mạn của mình thành những câu trả lời không cầu toàn. Tôi hy vọng rằng vào cuối buổi nói chuyện, chúng ta sẽ còn thời gian để trao đổi thêm.
Về sự hướng thượng và hướng thiện

Sách Tam Tự Kinh mà các cụ học ngày xưa bắt đầu bằng câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Con người được sinh ra có bản tính vốn là hiền lành. Liệu có đúng không nhỉ? Tin tức hàng ngày dễ làm cho người ta nghi ngờ cái “tính bản thiện” của “nhân chi sơ”. Đầu tháng Một ở Ấn độ, một cô gái 23 tuổi bị sáu người đàn ông hãm hiếp đến chết trên một chiếc xe buýt. Cuối tháng Một, ở Bắc Ninh, người ta nô nức, chen lấn nhau tham gia lễ hội chém lợn. Con lợn bị nhát đao xẻ làm hai mảnh lăn quay trong vũng máu lênh láng và trong tiếng hò reo của những người trảy hội. Đây là những hiện tượng dị biệt, không tiêu biểu cho cuộc sống của người dân Ấn độ và Việt nam. Tôi nêu chúng ra như ví dụ vì chúng cùng phản ánh sự độc ác của con người một cách vô cùng rõ nét. Xét cho cùng, giết lợn cũng chỉ là việc giết động vật để ăn thịt, cái mà con người buộc phải làm để duy trì cuộc sống của chính mình. Hãm hiếp cũng nảy sinh từ một bản năng cơ bản của con người là bản năng duy trì nòi giống. Phải chăng, con người được sinh ra với hai bản năng cơ bản duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống, cái mà ở trong đó đã có sẵn mầm mống của cái ác, của cái ác khủng khiếp. Nếu chỉ dừng lại đây thì quả khó mà tin được vào cái “Nhân chi sơ tính bản thiện”.

Nếu con người được sinh ra chỉ có hai bản năng nói trên thì chắc rằng hai sự việc kể trên sẽ không phải là những hiện tượng dị biệt, mà ngược lại, là phổ biến, đến mức không làm chúng ta kinh ngạc hay xúc động nữa. Có thể tôi còn là một người lạc quan, nhưng tôi tin rằng con người được sinh ra còn có một bản năng khác nữa: đó là bản năng hướng thượng, hướng thiện. Nhìn vào một đứa trẻ sơ sinh, xinh xắn như một thiên thần ta có thể nghĩ rằng đó là hiện thân của sự tốt đẹp. Nhưng cái kiểm soát mọi hành động của đứa trẻ là chỉ đơn thuần bản năng sinh tồn của nó. Tôi nghĩ rằng, trong đứa trẻ không có sẵn một tâm hồn cao thượng, nhưng đã có sẵn tiềm năng để xây dựng nên từ đó cái tâm hồn ấy. Theo tôi, nếu có “tính bản thiện” của “nhân chi sơ”, thì nó chính là cái tiềm năng ấy.

Cái tiềm năng ấy được triển khai trong học tập và là động cơ chính cho việc học tập. Có thể có người không đồng ý với quan điểm này và cho rằng học là để sau này có một cuộc sống tử tế, để sau này có một vị trí tốt trong xã hội. Tôi cho rằng cách suy nghĩ như vậy là phiến diện. Thứ nhất, để có một cuộc sống tử tế, đó cũng chính là biểu hiện của sự hướng thượng, hướng thiện – tất nhiên một khi nó đã biến thái để nhắm tới cái đích là hưởng thụ một cuộc sống an nhàn nhờ vào sức lao động của người khác, thì cái động cơ hướng thượng hướng thiện đó đã bị tha hoá nghiêm trọng. Thứ hai, tôi tin rằng đa số người ta thực ra không có khả năng phấn đấu vì một cái gì xảy ra trong một tương lai quá xa, phần lớn người ta học chỉ vì đó là cách hoàn thiện bản thân mình, tức là học với một động cơ hướng thượng thuần khiết nhất. Vì vậy, nhiều khi chính quan niệm xã hội lại làm tha hoá một động cơ mà bản chất là thuần khiết.

Cần lưu ý là quan niệm xã hội không phải là cái duy nhất làm cho sự hướng thượng hướng thiện bị tha hoá. Tôn thờ cá nhân, có thể là lãnh tụ, danh thủ bóng đá, hay là ca sĩ Hàn quốc, là một hình thức tha hoá của sự hướng thượng. Bản năng hướng thượng, hướng thiện luôn phải vật lộn với hàng loạt bản năng xấu: tính lười biếng, tính đố kỵ, tính gian dối, tính hiếu thắng, tự phụ. Bị tha hóa, nó không còn mấy cơ hội để làm động cơ cho việc học tập.
Học chữ hay học làm người?

Gần đây, trên báo chí có khá nhiều người ở đặt ra câu hỏi “Cần học chữ hay học làm người?” Hoặc giữa hai cái, cần học cái nào trước. Câu hỏi này thực ra tối nghĩa. Học chữ, là tiếp thu kiến thức. Còn học làm người là như thế nào, hẳn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể hiểu theo nghĩa hẹp: học làm người như học kỹ năng sống, học nghệ thuật sống, tóm lại là học những hành vi văn minh. Cũng có thể hiểu học làm người theo nghĩa rộng tức là học những gì làm nên cốt cách của một con người – như vậy thì lại quá rộng, và bao hàm nốt cả học chữ rồi. Có lẽ vì ý nghĩa của câu hỏi không được phân tích rạch ròi mà nhiều cuộc thảo luận trên báo chí về đề tài có cái vẻ gì đó hơi luẩn quẩn.

Trong cái nghĩa hẹp, có thể đặt lại câu hỏi trên khác đi, và làm cho nó rõ nghĩa hơn: “Trường học phải dạy chữ hay dạy kỹ năng sống, nghệ thuật sống?” Có vẻ như càng ngày càng có nhiều người ngả về quan điểm hiện đại “Trường học phải dạy cho trẻ kỹ năng sống”. Quan điểm cổ điển được nhà triết học Đức Hannah Arendt phát biểu rành rọt trong bài viết “Khủng hoảng trong giáo dục” như thế này: “Chức năng của nhà trường là dạy cho trẻ thế nào là thế giới, chứ không phải là rèn cho chúng nghệ thuật sống”. Tôi đồng ý với quan điểm này, và trong phần tiếp theo của bài viết quan điểm này sẽ được làm rõ hơn lên.

Ẩn trong câu nói của bà Hannah Arendt, có cả câu trả lời cho câu hỏi học làm người theo nghĩa rộng. Học làm người là học về thế giới, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người, để mỗi cá nhân nhận thức được vị trí của mình ở trong đó, nhận thức hết các tương tác giữa cá nhân mình với những người khác, để triển khai mọi tiềm năng của mình, để hoàn thiện mình và đồng thời làm cho thế giới xung quanh trở nên một nơi an toàn hơn, thân thiện hơn cho cuộc sống.
Để trẻ có kỹ năng sống, người lớn phải là tấm gương

Tôi từng nghe người ta kể chuyện một đứa bé sơ sinh bị sói tha đi. Sau này người ta tìm lại được đứa bé. Tuy vẫn còn hình hài của một con người, tính nết của nó là tính nết của loài sói. Ở đây, chính cái “tiềm năng hướng thượng, hướng thiện” đã biến nó thành người sói. Đối với nó, cái đại diện cho sự tốt đẹp chính là mẹ sói của nó. Mẹ sói cho nó bú, tha mồi về cho nó ăn. Đứa trẻ lớn lên giữa bày sói tất trở thành một con sói, cái nó coi là tốt là cái tốt của loài sói. Kể ra nếu nó tiếp tục sống trong rừng cùng với bày sói thì như thế cũng không sao. Bi kịch đến với nó vào cái ngày mà người ta buộc nó quay lại sống với con người.

Ở Lào, ở Thái Lan có phong tục gửi trẻ nhỏ vào sống ở trong chùa một thời gian, từ ba ngày, ba tuần, ba tháng cho đến ba năm. Ở trong chùa, ngoài việc học kinh kệ, trẻ còn học yêu quí cuộc sống thanh đạm, ngăn nắp của người tu hành. Khi đi thăm Lào và Thái Lan, người ta luôn cảm thấy ngạc nhiên về sự sạch sẽ, ngăn nắp của làng quê, kể cả ở những nơi nghèo nhất.

Tôi xin phép dẫn thêm một ví dụ cá nhân, nhỏ nhặt và tầm thường thôi. Vợ chồng tôi ít xem vô tuyến, hầu như không xem bao giờ. Có lẽ vì thế mà mấy đứa con của chúng tôi hoàn toàn không có sở thích xem truyền hình, bố mẹ không cần cấm đoán hay hạn chế gì cả. Nếu có thời gian, chúng nó thích đọc sách hơn. Nhiều khi tôi muốn xem phim cùng với đám trẻ con, tôi lại phải mặc cả với chúng.

Những ví dụ này nhắc nhở chúng ta, những người có bổn phận làm người lớn, đừng bao giờ quên rằng dù muốn hay không muốn, chúng ta luôn là tấm gương để cho trẻ soi vào. Ngoài trách nhiệm cho trẻ một mái nhà, cung cấp thức ăn cho đủ no, quần áo cho đủ mặc, người làm cha mẹ luôn phải tâm niệm rằng mình cư xử ngày hôm nay như thế nào, ngày mai trẻ sẽ cư xử giống như thế. Đó là bài học của chuyện cái máng gỗ mà chắc các bạn đều biết cả.

Cái tôi muốn nói là nếu người lớn biết cư xử đúng mực thì trẻ con không cần đi học những lớp kỹ năng sống nữa. Và người có trách nhiệm chính trong việc giáo dục hành vi cho trẻ là cha mẹ, gia đình, chứ không phải nhà trường. Những bài lên lớp của thầy cô giáo không có cùng tác dụng nhiều lên hành vi của đứa trẻ như chính hành vi của cha mẹ nó.

Tất nhiên tôi không muốn nói rằng trường học hoàn toàn không có chức năng giáo dục hành vi cho trẻ nhỏ. Trong tâm hồn trẻ nhỏ, thầy cô giáo có một vị trí thiêng liêng, có lẽ thiêng liêng hơn bố mẹ, vì thế nên cách ứng xử của các thầy cô trong cuộc sống nhà trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp hành vi của học sinh. Nhưng không vì thế mà cha mẹ có thể trút toàn bộ trách nhiệm giáo dục hành vi của trẻ lên vai thầy cô giáo.
Vai trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân cách

Khi đứa bé mới ra đời, bản năng sinh tồn điều khiển mọi hoạt động của nó. Đối với nó, toàn bộ thế giới là bầu sữa mẹ. Khi lớn lên, nó có thêm nhận thức về thế giới xung quanh, về những con người khác. Dần dần nó hiểu rằng không chỉ có nó cần sinh tồn, mà cả những người khác cũng cần sinh tồn như nó. Điều này thoạt nghe thật hiển nhiên, nhưng đó là một bước chuyển hoá vĩ đại của tư duy, đứa trẻ đã chấp nhận sự tồn tại của khách thể, của người khác, như một lực lượng đối lập với bản thân nó.

Chấp nhận sự tồn tại của khách thể là điều kiện để phân biệt giữa cái thiện và cái ác. Cái thiện là sung sướng trong sự hạnh phúc của người khác, đau khổ trong sự bất hạnh của người khác, còn ngược lại cái ác là sung sướng trong sự bất hạnh của người khác, đau khổ với sự hạnh phúc của người khác. Như vậy, khi đứa trẻ còn chưa nhận thức về người khác, theo nghĩa ở trên, các khái niệm thiện và ác chưa thể áp dụng vào nó. Thêm nữa, khái niệm “người khác” không nhất thiết phải là người. Đó có thể là con ong, cái kiến. Đó cũng có thể là con lợn ở Bắc Ninh. Cái cảm giác phấn khích, hân hoan của con người trong cái chết tức tưởi của con lợn biểu đạt cái ác ở trạng thái thuần tuý nhất của nó.

Việc học, theo Hannah Arendt, đó là cố gắng để hiểu thế giới xung quang, trong đó có thế giới tự nhiên và thế giới con người. Nó bắt người ta phải nhận thức về sự tồn tại của người khác, cái là điều kiện để phân biệt giữa thiện và ác. Chỉ biết phân biệt thiện và ác thôi không đủ. Có một câu ngạn ngữ nói rằng “Đường đến địa ngục lát bằng thiện tâm”. Biết phân biệt rành rọt giữa thiện và ác là cần thiết nhưng sẽ thật thiếu sót, thậm chí nguy hiểm, nếu coi việc hình thành nhân cách chỉ đơn giản là phân biệt giữa thiện và ác. Trong phần lớn các trường hợp, vấn đề không phải là ở chỗ phân biện giữa thiện và ác.

Để nhận thức được vị trí của mình trong thế giới, mỗi người phải tự đặt ra cho mình những câu hỏi căn bản nhất về thân phận con người, phải tự tìm ra câu trả lời của mình cho những câu hỏi đó, hoặc ít ra cũng biết về những câu trả lời mà tiền bối đã từng đưa ra. Việc phân biệt giữa cái thiện và cái ác là một trong những câu hỏi như thế, nhưng nó không phải là câu hỏi duy nhất và có lẽ cũng không phải là câu hỏi quan trọng nhất.

Có những câu hỏi thoạt nghe thì có vẻ ngây thơ ví dụ “Những cái gì là nhu cầu căn bản của con người? Tự do và công bằng có phải là như cầu căn bản của con người hay không”. Con người có cả nhu cầu sống trong cộng đồng, trong xã hội, vì mỗi người không thể làm ra được hết tất cả những gì mình cần. Nếu tự do và công bằng cũng là nhu cầu căn bản thì xã hội phải được thiết kế thế nào để cho tự do của mỗi người và sự công bằng giữa người này và người khác được bảo đảm? Triển khai câu hỏi đến đây thì ta thấy câu hỏi này phức tạp hơn nhiều so với câu hỏi phân biệt giữa cái thiện và cái ác, và có lẽ cũng quan trọng hơn.

Trả lời cho câu hỏi về vai trò của giáo dục nhân văn nói chung vượt ra ngoài khuôn khổ của bài nói chuyện này và khả năng của tôi. Trong phần tiếp theo, tôi muốn thu hẹp câu hỏi lại và trao đổi kỹ hơn về vai trò của giáo dục nhân văn trong sự hình thành nhân cách.

Cơ chế căn bản cho việc hình thành nhân cách là chiêm nghiệm về một sự việc cụ thể đã xảy ra trong một hoàn cảnh cụ thể, ngẫm xem người ta đã quyết định như thế nào, đã làm gì, và hậu quả, ảnh hưởng của việc đó lên cuộc sống của người khác và của chính người đó như thế nào. Có thể thấy rằng con người chiêm nghiệm bằng xúc cảm nhiều hơn là bằng tư duy. Người ta chiêm nghiệm sâu sắc nhất về những gì xảy ra với chính mình, hoặc là xảy ra với người thân của mình, vì những trải nghiệm đó để lại những xúc cảm mạnh nhất. Nhưng nói chung, trải nghiệm của một người trẻ, kể cả những trải nghiệm được gia đình chia sẻ, không đủ phong phú để người đó hình thành một nhân cách vững vàng. Vốn trải nghiệm của anh ta sẽ giàu có hơn nhiều, nếu anh ta biết đặt mình vào trong lịch sử, nơi những câu chuyện của quá khứ được ghi lại một cách trung thực, hoặc là trong văn học, nơi có những câu chuyện lớn, tuy có thể là được hư cấu, nhưng luôn xuất phát từ sự trải nghiệm chân thực của nhà văn.

Trong một bài viết trên blog cá nhân, đặt tên là Giữ ký ức, tôi có kể câu chuyện về học sinh phổ thông ở Đức học về tội ác của chế độ quốc xã lên người Do thái như thế nào. Học sinh Đức học ở trong sách vở, đọc nhật ký của cô bé Anne Frank viết khi trong thời gian hai năm trốn trong góc tủ để rồi cuối cùng cũng bị bắt rồi bị giết. Họ đi tham quan trại tập trung Buchenwald. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn cả là học sinh Đức còn phải tự đi điều tra xem xung quanh nơi mình ở, trước đây đã từng có người Do thái nào sống, họ tên là gì, họ đã bị bắt trong hoàn cảnh nào, đã bị giết chết như thế nào. Làm như thế để cho những trải nghiệm trở nên gần gũi nhất. Một vài tháng sau khi viết bài này, tôi có nói về chuyện với một nhiếp ảnh gia người Đức, ông ấy nói người Đức phải làm như thế vì nếu không họ sẽ lại phạm lại đúng những sai lầm khủng khiếp nhất trong quá khứ. Giáo sư Hà Huy Khoái cũng bình luận như thế này: “Người Đức khôn thật, họ cho học sinh học thuộc bài lịch sử! Dân tộc nào không làm điều đó, chắc chắn phải học đi học lại nhiều lần. Chưa thuộc bài nào, lịch sử sẽ bắt học lại bài đó. Mà mỗi lần học lại, thi lại đều phải trả giá đắt hơn trước. Giá ở đây có thể là máu, không chỉ là tiền như sinh viên thi lại!”.

Tôi nghĩ về câu chuyện này từ một khía cạnh khác. Trải nghiệm chân thực về những sự thật dù đau đớn đến mấy cũng làm cho cốt cách con người trở nên mạnh mẽ, trái với những sự dối trá, có thể ngọt lịm, nhưng luôn làm tha hoá tâm hồn con người. Chức năng của giáo dục nhân văn không phải là ngợi ca cái thiện, phê bình cái ác mà là giúp con người tìm đến sự thực và để cảnh giác với sự dối trá của người khác và của chính mình. Cảnh giác với bản năng lười nhác, ích kỷ và hèn nhát, những cái rất giỏi ngụy trang trong tấm áo thiện tâm để dắt tay con người đi về địa ngục, cái không phải là gì khác mà chính là sự tha hóa hoàn toàn của tâm hồn con người. Giáo dục nhân văn nghiêm túc rèn cho chúng ta thái độ nỗ lực không mệt mỏi trong cố gắng đi tìm sự thật cùng với khả năng chiêm nghiệm bằng tư duy vì nếu chỉ chiêm nghiệm bằng xúc cảm, con người rất dễ bị đánh lừa.

Tôi đã nhắc đến chuyện bản năng hướng thượng hướng thiện của con người rất dễ bị tha hoá để trở thành hiện tượng sùng bái cá nhân, có thể xuất hiện dưới dạng là sùng bái lãnh tụ hoặc ca sĩ Hàn quốc. Vai trò của giáo dục nhân văn là dắt tay con người đi theo “tấm biển chỉ đường của trí tuệ” để đi về với cái chân thiện, chân mỹ.
Ngôn ngữ và thái độ khoa học

Nếu bản năng hướng thượng, hướng thiện là động cơ của học tập, nó không phải là công cụ. Con người biểu đạt sự hiểu biết về thế giới khách quan bằng lời. Con người thụ hưởng vốn hiểu biết mà nhân loại tích tụ được thông qua ngôn ngữ. Có hai thái độ ứng xử với ngôn ngữ đối lập nhau, dẫn đến hai phương pháp tư duy đối lập nhau: một bên là thái độ tôn giáo, coi ngôn từ như đối tượng để tôn thờ, một bên là thái độ khoa học, coi ngôn từ như một công cụ để định hình tư tưởng.

Định nghĩa chữ Đạo trong Đạo Đức Kinh là điển hình của thái độ tôn giáo đối với ngôn từ. Đạo được mô tả như thế này, như thế kia, Đạo không phải là thế này, không phải là thế kia, nhưng không một lần Đạo được định nghĩa là cái gì. Đạo là một từ đại diện cho một khái niệm linh thiêng không định nghĩa được, người ta chỉ có thể biết thuộc tính của nó là như thế này, như thế kia, cùng lắm là biết nó không phải là cái gì, tức là hạn chế khái niệm bằng phủ định, chứ không thể nói nó là cái gì, tức là định nghĩa khái niệm bằng khẳng định. Tính linh thiêng của chữ Đạo nằm chính ở chỗ ta không thể định hình được nó.

Tôi dẫn ví dụ Đạo Đức Kinh không với ý muốn đánh giá thấp giá trị triết học của tác phẩm này. Tôi chỉ muốn chỉ ra sự đối lập với giữa thái độ tôn giáo của nó đối với ngôn ngữ và thái độ khoa học. Thái độ tôn giáo với ngôn ngữ đưa đến những luận điểm bao quát, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống, con người cũng có thể vận dụng chúng để diễn giải những gì xảy ra với mình, và tự an ủi mình. Mà trên đời này, ai là người không cần được an ủi.

Đóng góp lớn nhất của văn hoá Hy lạp cổ đại cho tư duy loài người có lẽ là sự phát minh ra thái độ khoa học với ngôn ngữ mà điển hình là sách Cơ sở của Euclid. Để nói về hình tròn, người ta không nói nó là cái gì đó giống mặt trời, hay mặt trăng vào thời kỳ trăng tròn, mà người ta định nghĩa đường tròn là tập hợp các điểm có một khoảng cách cho trước đến một điểm cho trước, gọi là tâm của đường tròn. Cái đáng lưu ý nhất là khái niệm luôn được xây dựng trên cơ sở khẳng định: nó là cái gì, chứ không phải trên cơ sở phủ định: nó không phải là cái gì.

Cũng cần lưu ý là ở đây đường tròn không được gán cho bất kỳ một thuộc tính thiêng liêng nào cả, nó chỉ là cái tên đưa ra để định hình khái niệm tập hợp các điểm có khoảng cách cho trước đến một điểm cho trước. Thậm chí trong thực tế, không có cái gì chính xác là hình tròn cả, chỉ có những hình tròn gần đúng mà thôi. Các định nghĩa của Euclid chỉ có giá trị giới hạn trong phạm vi của hình học. Theo một nghĩa nào đó, hình học là một sản phẩm thuần tuý của trí tuệ, là một trò chơi của tư duy. Giá trị lớn nhất của trò chơi này nằm ở ngay trong sự hạn chế của nó. Vì luật chơi bao gồm một số tiên đề, và một số phép suy luận được quy định trước, một phát biểu hình học chỉ có thể hoặc là đúng, hoặc là sai, một chứng minh chỉ có thể là đầy đủ chặt chẽ hoặc là thiếu sót ngộ nhận. Đây là cuộc chơi mà tư duy logic của con người được tha hồ thi thố. Cho đến bây giờ nó vẫn giữ nguyên ý nghĩa đó. Để cho trẻ học được phương pháp lập luận chặt chẽ, không có gì tốt hơn là học hình học Euclid.

Ưu điểm của trò chơi tư duy mà trong các luật chơi được cố định trước là trong phạm vi của cuộc chơi này, mọi cái đúng cái sai đều rõ ràng. Ưu điểm quan trọng khác là con người có thể rút ra kết luận rõ ràng chi tiết từ hệ thống tiên đề và khái niệm, để rồi đem nó ra kiểm chứng, đối chiếu với quan sát thực tế.

Ở điểm này, thiên hướng của khoa học khiêm tốn hơn nhiều so với thiên hướng của tôn giáo. Những luận điểm của tôn giáo thường có tính khái quát cao, nhưng không có tính chi tiết để có thể kiểm chứng đối chiếu được qua các quan sát thực tế. Trong mọi trường hợp tôn giáo yêu cầu người ta phải tin và phải chấp hành. Ngược lại, lý thuyết khoa học đưa ra những luận điểm đủ cụ thể để có thể kiểm chứng với thực tế và dành cho thực tế quyền phán xét cuối cùng. Sự khiêm tốn, luôn đặt mình vào vị trí để cho thực tế phán xét, hoặc khẳng định, hoặc phủ nhận, theo Karl Popper chính là thuộc tính đặc trưng của khoa học, đối lập với tín điều.

Sự khiêm tốn này cũng chính là cái làm nên sức sống của khoa học. Tôn giáo sẽ chết khi con người không còn đặt lòng tin vào tín điều nữa. Còn trong bản chất của mình, luận điểm khoa học chấp nhận sự phủ định, nó như chỉ chờ được thực tế phủ định để hồi sinh, lột xác thành một lý thuyết khoa học mới, phức tạp hơn, có phạm vi ứng dụng rộng hơn lý thuyết cũ.

Trong bản chất, mọi lý thuyết khoa học chỉ mô tả được một phạm vi nào đó của thế giới, lý thuyết càng thô sơ thì phạm vi áp dụng của nó càng hẹp. Đi ra ngoài phạm vi đó là bắt đầu một cuộc chơi mới, con người lại phải sáng tạo một hệ thống ngôn ngữ, khái niệm mới, tìm ra một luật chơi mới. Nhưng không phải vì thế mà lý thuyết cũ nhất thiết phải bị thủ tiêu khi một lý thuyết mới ra đời. Trong phạm vi cuộc sống hàng ngày, khi các vật thể chuyện động chậm hơn nhiều so với ánh sáng, cơ học Newton vẫn đúng.

Người đi tìm hiểu thế giới gần như bắt buộc phải đi lại gần như toàn bộ hành trình tìm hiểu thế giới của loài người. Đây là cái khó khăn rất lớn. Đã có một số quan điểm sai lầm trong giáo dục muốn bỏ qua những lý thuyết khoa học trước đây để đưa học sinh đến với những lý thuyết tiên tiến nhất. Ở phương tây những vào những năm 70 đã có trào lưu xây dựng lại toàn bộ giáo trình toán học dựa theo cách trình bày toán học hiện đại của nhóm Bourbaki. Kết quả của thí nghiệm đại trà này không tốt. Cảm nhận chung là trình độ toán học của học sinh tốt nghiệp phổ thông kém đi nhiều.

Gần đây, con lắc cực đoan có vẻ như bị văng theo hướng ngược lại. Người ta muốn lược đi khỏi chương trình tất cả những gì được coi là không cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Tôi vô cùng ngạc nhiên bởi ý kiến của một vị Giáo sư cho rằng học sinh không cần học vi phân, tích phân vì hàng ngày có ai cần dùng đến vi phân, tích phân đâu. Nhưng chính là nhờ vào thiên tài của Newton và Leibnitz, các hiện tượng tự nhiên được mô tả một cách tường minh dưới dạng phương trình vi phân. Loại bỏ đi đạo hàm tích phân có khác gì tự nguyện quay lại với tư duy mơ hồ của siêu hình trung cổ.

Vấn đề không phải đem những kiến thức khoa học tiên tiến nhất đến cho học sinh, vì có muốn cũng không làm được. Vấn đề cũng không phải là tập trung rèn luyện cho học sinh kỹ năng tính toán để phục vụ cho những nhu cầu hàng ngày. Cái cần làm trang bị cho học sinh phương pháp tư duy khoa học: định hình rõ nét khái niệm, liên hệ những khái niệm đó với thế giới khách quan, biết lập luận, biết tính toán để đưa ra những luận điểm cụ thể, kiểm chứng những luận điểm đó với thế giới khách quan.

Còn một thuộc tính khác của một khoa học có sức sống là khả năng đem đến sự bất ngờ. Hình học Euclid không còn khả năng đưa ra những khẳng định bất ngờ nào nữa và theo nghĩa này, nó là một môn khoa học chết. Nó chỉ còn là một trò chơi trí tuệ để học sinh rèn luyện khả năng tư duy logic. Nhận định của Einstein rằng tia sáng bị uốn cong khi đến gần các vật thể có khối lượng lớn nhờ vào những tính toán trong lý thuyết tương đối là một bất ngờ khi trong hình dung của chúng ta, đường thẳng là đường truyền của ánh sáng. Sức sống của một bộ môn khoa học thể hiện ở chỗ từ một hệ thống khái niệm, tiên đề chấp nhận được, bằng tính toán và lập luận, người ta có thể đưa ra những giải thích chưa biết cho những hiện tượng đã biết, hoặc là tiên đoán về những hiện tượng chưa được biết đến.

Khi khoa học “nhận nhiệm vụ” diễn giải, chứng minh cho một luận điểm cho trước, để phục vụ một mục đích chính trị hoặc tôn giáo, bất kể mục đích đó tốt hay xấu, về mặt thực chất khoa học đã mất đi cái làm nên sức sống của nó. Vấn đề “nhận nhiệm vụ” ảnh hưởng nhiều đến khoa học xã hội hơn là khoa học tự nhiên. Như một số người đã nhận xét, ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, các ngành khoa học tự nhiên có thể rất phát triển trong khi các ngành khoa học xã hội để lại rất ít dấu ấn vào văn minh nhân loại. GS Hà Huy Khoái có lần phát biểu nửa đùa nửa thật “Thực chất, ở Việt Nam chưa có khoa học xã hội”. Phát biểu của ông đã gây ra những phản ứng khá dữ dội. Nói một cách khách quan hơn, nó có đấy, nhưng nó yếm khí và thiếu sức sống.
Học như thế nào?

Ngày xưa để học được chữ thánh hiền, cái quan trọng nhất là cần có chí. Cái chí để đi bắt đom đóm bỏ vào lọ làm đèn mà đọc sách thâu đêm. Trong công việc học tập bây giờ, trong việc tiếp thu kiến thức khoa học của nhân loại tưởng như vô hạn, chỉ có chí thôi chắc là không đủ.

Như tôi vừa trình bày ở trên, khoa học không bị cái bệnh tự phụ coi những luận điểm của mình đúng một cách tuyệt đối, đúng một cách phổ quát. Mỗi lý thuyết khoa học được khai triển bằng tính toán, bằng lập luận từ một số nhỏ khái niệm, một số tiên đề cơ sở. Mỗi lý thuyết có logic nội tại của nó, nó không tự mâu thuẫn, nhưng những kết luận mà người ta rút ra từ nó chỉ khớp với thực tế khách quan trong một phạm vi nào đó. Theo một nghĩa nào đó, mỗi lý thuyết là một trò chơi trí tuệ, với luật chơi được xác định rõ ràng mà trong đó người chơi có thể triển khai khả năng tư duy của mình để đi đến những kết quả nhiều khi nằm ngoài sự mong đợi ban đầu.

Rất ít khi người ta chơi trò gì một mình. Để cho cuộc chơi thực sự cuốn hút, để cho người chơi có thể thực sự triển khai mọi tiềm năng tư duy của mình để đi đến những kết quả bất ngờ, đi đến sáng tạo, cuộc chơi phải có bạn chơi và phải có trọng tài. Để minh hoạ quan điểm này, tôi xin đưa ra một gợi ý nhỏ, nhưng rất nghiêm túc.

Nhờ vào internet, hiện tại người ta có thể tìm được miễn phí rất nhiều tài liệu học tập miễn phí ở trên mạng. Một số trường đại học có tên tuổi như MIT, Stanford còn tổ chức công bố miễn phí hầu hết các tư liệu học tập. Thay bằng việc phải bỏ ra 50 ngàn đô-la một năm để đến đó học, mà không phải cứ có 50 ngàn đô-la là đã được nhận vào học, bạn có thể truy cập miễn phí các tư liệu học tập, theo dõi các bài giảng video. Vậy có đúng là bạn cứ ngồi ở Hà nội, hay Sài gòn, là cũng có thể học như sinh viên ở MIT hay ở Stanford hay không.

Tôi nghĩ rằng trừ khi bạn có một ý chí sắt đá, dù có được cung cấp tất cả mọi tài liệu trên đời, dù dược theo dõi miễn phí các bài giảng, ở nhà một mình bạn vẫn không thể học được. Bởi vì ngồi theo dõi bài giảng trên mạng một mình không phải là một cuộc chơi thú vị: không có địch thủ, không có đồng đội, không có lộ trình, không thấy mục tiêu, không thấy giải thưởng. Đó là những thứ không liên quan trực tiếp đến nội dung khoa học của bài giảng nhưng đó là cái mà người đi học cần để phấn đấu liên tục. Học một mình, bạn có thể tập trung cao độ trong một hai ngày cho đến một tuần. Nhưng bạn cần có tập thể, có lớp học, có thầy giáo để duy trì nỗ lực học tập.

Gợi ý của tôi là tại sao các bạn không tự tổ chức cùng học theo giáo trình được cung cấp trên mạng. Tại sao không thể dùng trực tiếp bài giảng, tư liệu học tập cung cấp miễn phí trên mạng trong các lớp học chính khoá. Các thầy không nhất thiết phải giảng cả buổi nữa, mà có thể cho sinh viên xem bài giảng trên mạng, có thể làm trước phụ đề tiếng việt, sau đó dành thời gian để giải thích thêm, trả lời câu hỏi của sinh viên, và hướng dẫn làm bài tập. Và cuối cùng là tổ chức thi cử nghiêm túc. Tất nhiên gợi ý thì dễ, mà làm thì khó, nhưng tôi không tin là việc này không thể làm được. Kinh phí để tổ chức lớp học như thế có lẽ là không nhiều lắm, nếu so sánh với học phí 50 ngàn đô la một năm ở MIT hay Stanford.

Với gợi ý có tính suy tưởng này, tôi hy vọng làm nổi lên được sự quan trọng của việc tổ chức học tập. Học tập là một hoạt động tập thể và có tổ chức. Như đã nêu ở trên, thiếu một tập thể có tổ chức, con người nói chung không có khả năng duy trì nỗ lực của mình trong một thời gian dài. Thiếu tranh biện con người nhanh chóng lạc vào con đường chủ quan, con đường luôn dẫn đến cái đích là sự bế tắc. Bản tính con người là hiếu thắng, cái cần thiết để tạo ra sự sôi động trong tranh luận, những cũng là cái làm hỏng cuộc tranh luận, biến nó thành chiến trường để người này đè bẹp người kia. Vì vậy trong mọi cuộc chơi tập thể cần có một luật chơi lành mạnh để cho sự cạnh tranh chỉ tạo ra nỗ lực để mỗi người vượt lên chính mình, chứ không phải là cái cớ để thỏa mãn bản năng hiếu thắng. Và cuộc chơi cần một người trọng tài, nắm vững luật lệ và có thẩm quyền điều khiển cuộc chơi. Ngoài ra, chính những ràng buộc của luật chơi bắt người chơi phải vươn tới sự sáng tạo thực sự.

Tôi để ý thấy người ta phá bỏ luật chơi dễ dàng quá. Tôi xin dẫn một ví dụ nhỏ là việc viết thư giới thiệu. Viết thư giới thiệu là một công việc khá vất vả mà lại không thể mong đợi phần thưởng gì khác ngoài cảm giác hoàn thành bổn phận. Để giới thiệu cho một đồng nghiệp vào một vị trí phó giáo sư, hay giáo sư, thường thì người giới thiệu phải tìm hiểu kỹ công trình của người mình giới thiệu để chỉ ra chỗ nào hay, chỗ nào đặc sắc, chỗ nào thì cũng chỉ bình thường, và nêu ra ý nghĩa chung của công trình. Không viết được đầy đủ nội dung như vậy, thì lá thư giới thiệu không có mấy trọng lượng, mà người viết thư giới thiệu lại có thể bị đánh giá, hoặc là về sự nghiêm túc, hoặc là về trình độ. Viết thư là một việc rất vất vả, mà không có ai khen ông này ông kia viết thư giới thiệu rất hay, vì trên nguyên tắc thư giới thiệu được giữ bí mật. Tóm lại, viết thư giới thiệu là một việc vất vả, không có bổng lộc, nhưng lại cần phải làm để ủng hộ một người đồng nghiệp xứng đáng, hoặc chỉ đơn thuần là để thực hiện bổn phận của mình. Viết thư giới thiệu cho sinh viên cũng mất công, nhưng không vất vả như viết thư giới thiệu cho đồng nghiệp.

Có một lần, một sinh viên mà tôi đã từng dạy ở Hà nội nhờ tôi viết thư giới thiệu. Khi tôi còn đang do dự vì tôi đánh giá bạn ấy không thực sự xuất sắc, thì anh ta gửi cho tôi một bức thư giới thiệu soạn sẵn để tôi chỉ việc ký vào đó. Khi tôi tỏ ra vô cùng ngạc nhiên về cách làm này, thì bạn ấy trình bày là các thầy giáo khác yêu cầu bạn ấy làm như thế. Một số người có thể coi đây là việc nhỏ, nhưng tôi nghĩ chính từ những chuyện nhỏ như thế sẽ làm tha hoá cả hệ thống.

Khi chuẩn bị bài nói chuyện này, ý định của tôi là chia sẻ những suy nghĩ tản mạn của mình về việc học tập, chứ không định phê bình ai cả, càng không có ý định phê bình nền giáo dục ở nước ta. Đã có nhiều người chỉ ra rất nhiều bất cập, tôi không thấy cần thiết phải hoà thêm tiếng nói của mình vào đó. Nhưng nếu chỉ nêu ra một vấn đề, vấn đề lớn nhất, thì theo tôi đó là mức độ tha hóa của hệ thống.

Xin quay lại sự kiện Đồi ngô mà các bạn đều đã biết cả. Đây là một sự kiện vô cùng đặc biệt, vì chuyện thí sinh quay phim giám thị vi phạm qui chế thi là điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhân loại. Đây là một câu chuyện rất buồn, nó phải là tiếng chuông cảnh tình về mức độ tha hoá của hệ thống. Hãy khoan quy trách nhiệm cho một cơ quan, một cá nhân nào mà hãy bình tâm suy nghĩ. Để cho một việc như vậy xảy ra, phải có nhiều người từ trung ương đến địa phương, ở trong và ngoài ngành giáo dục, đã không tôn trọng luật chơi. Kết quả là kỳ thi tốt nghiệp, cái đáng ra phải là một thủ tục mang tính nghiêm cẩn, phải là một cái mốc thiêng liêng cho cả quá trình lao động học tập của học sinh, lại trở thành một trò đùa, một trò đùa làm chúng ta muốn khóc.

Nước Mỹ có thể tự hào về những trường đại học của mình. Các đại học ở Mỹ thường là tương đối trẻ, trường đại học Chicago nơi tôi làm việc cũng mới khoảng 100 tuổi, đồng niên với Đại học quốc gia Hà nội. Có lẽ cũng phải trả lời câu hỏi, cái gì là “bí quyết thành công” của họ. Vào thời điểm hiện tại thì ta có thể nói rằng lý do thành công của họ là họ rất giàu, có nhiều giáo sư giỏi, có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại. Nhưng nói như thế là nhầm lẫn giữa kết quả và nguyên nhân. Ban đầu, họ không giàu, mà cũng không có nhiều người thực sự xuất sắc nếu so với cái trường đại học ở châu Âu vào cùng thời. Tuy không có một câu trả lời duy nhất, nhưng một nguyên nhân chắc chắn được nhắc đến là tinh thần fair-play, mọi hành vi ăn gian đều bị trừng trị một cách vô cùng nghiêm khắc.

Tôi cho rằng sự trung thực là một hành vi khó mà học được từ trong sách vở. Để trẻ học được tính trung thực, trước hết người lớn cũng phải học tính trung thực, để tự biết mà làm gương.

Tôi đã nói nhiều về sự cần thiết của việc tổ chức học tập, tính kỷ luật và tính trung thực. Nhưng bạn có thể thắc mắc rằng tại sao tôi nói về trường học mà cứ như là nói về doanh trại quân đội.

Tính kỷ luật và trung thực tất nhiên là không đủ. Cái còn thiếu chính là “niềm say mê” mà tôi nhắc đến lúc bắt đầu. Say mê đi tìm cái mới, cái chưa biết, tìm lời giải thích cho những gì còn chưa hiểu. Niềm say mê đi từ đâu đến? Thú thực là tôi không biết chắc chắn, và vì thế mà tôi giả sử rằng con người sinh ra với một bản năng hướng thượng, nói cách khác là đã có sẵn trong mình mầm mống của niềm ham mê. Tôi nghĩ rằng thực ra câu hỏi niềm ham mê sinh ra từ đâu không quan trọng bằng làm thế nào để gìn giữ niềm ham mê, và không để cho nó bị tha hoá. Niềm đam mê, tính hướng thượng hướng thiện là động cơ cho việc học tập, và chính việc học tập đích thực là cái nuôi dưỡng sự hướng thượng hướng thiện bởi những giá trị nhân văn chân thiện, chân mỹ, bởi tình yêu sự thật, và bởi niềm hạnh phúc của sự khám phá, để vượt qua biên giới giữa những gì đã biết và những gì chưa biết.

Một người bạn tôi có góp ý với tôi rằng bên cạnh niềm ham mê, đừng quên bổ sung sự quả cảm. Sự quả cảm là cái bạn cần để không để lười biếng, hèn nhát dụ dỗ mà quay lưng lại với sự thật. Sự quả cảm cũng là cái bạn rất cần khi đi tìm cái mới. Bạn có tập thể, có đồng đội để cùng học tập, tiến bộ. Nhưng dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tôi thấy rằng khi đã vượt qua biên giới của những gì đã biết để thực sự đuổi theo cái chưa biết, bạn rất cần tính quả cảm vì đi tìm cái mới thường là một hành trình cô đơn, và nó có thể kéo dài nhiều năm.

CamCard – Ứng dụng Quét Danh thiếp và lưu thông tin vào Contact

Gần đây phát hiện ra một phần mềm trên di động không thể tuyệt hơn. Chỉ cần chụp hình lại danh thiếp là có thể lưu tất cả thông tin vào contacts của điện thoại. Hỗ trợ cả tiếng Việt (thỉnh thoảng có sai sót về ngôn ngữ nhưng không đáng kể).

Bạn sẽ không phải mất thời gian lục lại đống danh thiếp cũ. tất cả đều có thể lưu lại trên điện thoại!

Hình ảnh
Hình ảnh
Hình ảnh
Hình ảnh

Làn sóng di cư lần hai

H là Tổng Giám đốc tại một quỹ đầu tư lớn ở TP.HCM. Anh từng đi du học và lập gia đình ở nước ngoài. Cách đây 8 năm, anh bỏ việc ở nước ngoài để về nước. Giờ đây, anh lại muốn nộp hồ sơ xin di trú cho gia đình sang Bắc Mỹ. Anh chưa tính sang đó sống ngay, nhưng đối với anh, đó là một cách bảo hiểm.

T là chủ một doanh nghiệp cổ phần cũng ở TP.HCM. Anh từng bán một công ty do anh gầy dựng và thu về một khoản tiền lớn. Hiện nay, anh vẫn còn sở hữu 2 công ty ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiếm khi anh ở Việt Nam mà dành phần lớn thời gian ở Mỹ với gia đình, nơi anh mới mua một căn biệt thự giá hơn 3 triệu USD hồi đầu năm 2012.

Trở thành thường trú nhân, hay còn gọi là người có “thẻ xanh”, hoặc trở thành người song tịch – vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch một nước khác đang là một xu thế thời thượng.

Tác giả bài viết, Ts Trần Vinh Dự
Tác giả bài viết, Ts Trần Vinh Dự

Hợp pháp và hợp lý…

Làm thủ tục xin định cư ở nước ngoài là việc hoàn toàn hợp pháp ở Việt Nam. Kể từ 1/7/2009, khi Luật Quốc tịch mới có hiệu lực, công dân Việt Nam được quyền có hai quốc tịch. Theo Bộ Tư pháp, kể từ ngày này, người Việt Nam ra định cư, nhập quốc tịch ở nước ngoài đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam mà không phải đăng ký. Điều đó có nghĩa người Việt Nam có thể xin quốc tịch nước khác như Mỹ hay Canada, mà không sợ mất quốc tịch Việt Nam.

Đối với nhiều người, việc có quốc tịch thứ hai cũng không quá quan trọng. Điều họ cần là quyền được định cư lâu dài ở nước mà họ lựa chọn ngoài Việt Nam. Như vậy, chỉ cần là thường trú nhân (có thẻ xanh) là đủ. Điều đó có nghĩa, việc có hay không có quyền có hai quốc tịch theo luật Việt Nam không phải là yếu tố thúc đẩy họ xin định cư ở nước ngoài.

Xét về mặt cá nhân, việc thu xếp để có thêm một lựa chọn về nơi ở là chuyện bình thường và hợp lý. Cả H và T đều muốn con cái khi lớn lên được sống trong một môi trường tiên tiến và thụ hưởng một nền giáo dục tốt. Ngay cả không định cư dài hạn ở một nước khác mà có được tự do trong việc đi lại và thay đổi môi trường sống theo sở thích cũng là một chuyện thú vị, mặc dù tốn kém. Đó là chưa kể đến việc một số người trở nên giàu có như T muốn đa dạng hóa tài sản của mình. Giữ một số bất động sản ở nước ngoài cũng là một lựa chọn thông minh.

Việt Nam đang giàu lên. Cùng với sự phát triển chung, Việt Nam ngày càng có thêm nhiều người giàu. Đi kèm với đó là ngày càng nhiều người có nhu cầu lấy thường trú nhân ở các nước phát triển như H và T. Điều này xem ra có vẻ rất bình thường.

Không có số liệu chính thức về số hồ sơ xin định cư mà các hãng tư vấn định cư hoạt động ở Việt Nam đang giải quyết. Vì nhiều lý do tế nhị, cũng ít có người công khai chuyện xin quyền định cư ở nước khác. Thế nhưng, có nhiều bằng chứng gián tiếp cho thấy phong trào này đang phát triển mạnh. Ngày càng có nhiều hãng tư vấn di trú quốc tế tham gia thị trường Việt Nam và hoạt động một cách tích cực như IMG, Kornova, USIS, Harvey Law Group (HLG), Immigration (IMM), US Investment (USI), ImmiCa… để phục vụ các khách hàng tiềm năng như H và T. Một số hãng lớn trong năm 2012 đã bị quá tải và phải thuê ngoài để có đủ nhân lực xử lý hồ sơ.

Thậm chí đã xuất hiện một số doanh nghiệp Việt Nam ngấp nghé đầu tư vào Bắc Mỹ hoặc Úc trong các ngành liên quan đến nông lâm nghiệp với mục đích tạo càng nhiều công ăn việc làm ở các nước này càng tốt. Lý do là số lượng công ăn việc làm tạo ra càng nhiều thì các chủ dự án này càng xin được nhiều suất thẻ xanh. Các suất này sau đó có thể bán lại cho các “nhà đầu tư”, thực chất là những người bỏ tiền ra mua thẻ xanh để vào các nước phát triển.

Nhiều câu chuyện có vẻ hợp lý về mặt cá nhân nhưng khi gộp với nhau lại là tín hiệu cho thấy nhiều sự bất bình thường về mặt xã hội.

… Nhưng bất bình thường

Các đợt di cư ồ ạt ra nước ngoài thường là dấu hiệu cho thấy những vấn đề về mặt xã hội. Lý do thông thường nhất là khó khăn về kinh tế, hiểm họa chiến tranh, bất ổn chính trị, phân biệt chủng tộc… Làn sóng di cư ở Việt Nam cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980 là một ví dụ. Kinh tế Việt Nam trước Đổi Mới đã gặp nhiều khó khăn. Vì thế, một số người di cư ra nước ngoài với hy vọng tìm được miền đất hứa.

Thế nhưng, cuộc di cư lần này lại khác hẳn. Cái khác cơ bản nhất: đây là phong trào di cư của những người giàu, những người thực sự có tiền để trở thành các nhà đầu tư và lấy thẻ xanh qua hình thức đầu tư.

Lý do thông thường khiến những người giàu muốn định cư ở nước phát triển là tìm đến một môi trường xã hội tốt hơn cho gia đình khi họ có khả năng chi trả cho một cuộc sống tốt hơn. Thế nhưng, đây không phải là lý do tạo ra các đợt di cư đột biến.

Lý do thường được nghe đến nhiều nhất trong số các chủ doanh nghiệp muốn di cư ra nước ngoài là sự bế tắc về cơ hội kinh doanh hiện nay cũng như sự bi quan về triển vọng của kinh tế Việt Nam. Cũng chính từ sự bi quan này, một số chủ doanh nghiệp lo lắng các bất ổn xã hội có thể sẽ xảy ra trong tương lai. Khi còn có điều kiện về tài chính, việc thu xếp để gia đình họ có quyền thường trú ở nước khác xem ra là một dạng mua bảo hiểm khôn ngoan.

Cuộc di cư của những người giàu thường có hại cho nền kinh tế nếu nó diễn ra trên diện rộng. Đầu tiên là sự thất thoát về chất xám. Không phải ai giàu có cũng giỏi, nhưng khá nhiều người trong số họ có kinh nghiệm, khả năng kinh doanh, hiểu biết và thông minh. Sự ra đi của những cá nhân này là một thiệt thòi lớn cho nền kinh tế.

Thứ hai là sự thất thoát về của cải. Những người ra đi lần này không phải với hai bàn tay trắng như phần lớn những người di cư cách đây hơn 30 năm. Họ ra đi, mang theo khối tài sản lớn, thường là hàng triệu USD. Nhiều chủ doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã có bất động sản và tài khoản tiền mặt lớn ở nước ngoài.

Thứ ba là các phong trào này tạo ra tâm lý lo ngại cũng như làm giảm nhiệt huyết của những người ở lại. Nó cũng làm nản lòng những người muốn đến Việt Nam đầu tư và làm ăn.

Dù có những tác động bất lợi như vậy, nhưng việc lựa chọn di cư là một quyền hợp pháp của người dân. Vì thế, không thể ngăn chặn xu hướng này bằng các mệnh lệnh hành chính. Cũng không thể ngăn chặn bằng những lời kêu gọi suông. Chỉ có thể giữ chân họ bằng cách tạo cho họ niềm tin vào sự phục hồi của nền kinh tế cũng như niềm tin vào sự an toàn của bản thân họ và gia đình ở Việt Nam. Muốn vậy, Chính phủ phải cho thấy khả năng dẫn dắt đất nước, thực hiện được những lộ trình và giải pháp cụ thể để đưa nền kinh tế thoát khỏi khó khăn. Và trên hết là nâng cao uy tín chính trị của người lãnh đạo để thuyết phục người dân tin vào tính khả thi của những cải cách.

Ts Trần Vinh Dự
Trần Vinh Dự chuyên nghiên cứu, tư vấn, và viết về các vấn đề kinh tế của Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài lĩnh vực sở trường này, ông cũng thường xuyên viết về các vấn đề quan hệ quốc tế liên quan tới Á Châu. Trần Vinh Dự tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học tổng hợp Texas ở Austin, làm chuyên gia tư vấn kinh tế cho tập đoàn ERS Group Inc., đồng sáng lập và là cố vấn cho Quỹ nghiên cứu Biển Đông.

(Theo NCĐT)

Năm điều hối tiếc nhất trước khi chết

 

Tình cờ được một người bạn chia sẻ bài báo này. Thấy khá thú vị nên dịch lại tặng bạn đọc nhé!

Năm điều hối tiếc nhất trước khi chết

Một cô ý tá đã quan sát và ghi nhận lại những điều tiếc nuối phổ biến của bệnh nhân trước khi chết. Và một trong những điều phổ biến nhất chính là “Tôi ước gì tôi đã không làm việc quá nhiều”. Nếu ngày hôm nay là ngày cuối cùng được sống, điều tiếc nuối nhất của bạn là gì?

The top five regrets of the dying

Một y tá chuyên chăm sóc những ca bệnh nặng đã ghi nhận lại 5 điều tiếc nuối phổ biến nhất của người bệnh trước khi chết. Ảnh: Montgomery Martin/Alamy

Theo những gì mà cô y tá đã ghi nhận, bệnh nhân không hề nhắc đến những ước muốn như “quan hệ tình dục nhiều hơn” hay “được nhảy bungee” (một trò chơi cảm giác mạnh, cột dây vào hai chân và nhảy tự do xuống từ trên cao). Trong suốt khoảng thời gian ở cạnh bệnh nhân trong những ngày cuối đời của họ, cô y tá đã lắng nghe và chia sẻ những tâm sự rất thật. Và trong số những điều nuối tiếc nhất chính là “Tôi ước gì mình đã không làm việc quá nhiều”.

Bronnie Ware là một y tá người Úc làm việc nhiều năm qua ở bộ phận chăm sóc những người bệnh nặng, chỉ còn  khoảng 12 tuần để sống. Cô đã ghi chép lại những tâm sự cuối đời của họ trên trang blog Inspiration and Chai. Trang blog được nhiều người quan tâm đến nổi cô đã tổng hợp tất cả những quan sát của mình để phát hành một cuốn sách với tựa đề “5 điều tiếc nuối nhất trước khi chết”.

Ware nói người bệnh khi sắp qua đời thường có một cái nhìn rõ ràng nhất về quãng đời đã qua. Và chúng ta có thể học được điều gì đó từ những suy nghĩ ấy. Cô nói “khi tôi hỏi họ về những tiếc nuối hoặc những gì họ ước mình sẽ làm khác, một vài điều phổ biến đã được nhắc lại nhiều lần”

Sau đây là 5 điều tiếc nuối nhất mà Ware đã ghi nhận được:

1. Tôi ước mình đủ can đảm để sống thật với bản thân mình. Không phải sống một cuộc đời mà người khác mong đợi. 

“Đây là điều tiếc nuối phổ biến nhất mà tôi ghi nhận được. Khi người ta nhận ra rằng cuộc đời này sắp chấm dứt và nhìn lại một cách rõ ràng nhất, thật dễ đễ thấy nhiều giấc mơ đã bị bỏ lỡ. Rất nhiều người đã không thể thực hiện, dù chỉ phân nửa, giấc mơ của họ và đã qua đời khi biết rằng, tất cả đều do những gì họ đã chọn lựa, hoặc không chọn lựa. Sức khỏe mang lại sự tự do mà chỉ ít người nhận ra được, cho đến khi họ không thể có được nó nữa.

2. Tôi ước rằng tôi đã không làm việc quá nhiều.

“Điều này tôi nghe được từ tất cả những bệnh nhân nam của mình. Họ đã bỏ lỡ nhiều thời gian với vợ con. Bệnh nhân nữ cũng nhắc đến điều nay nhưng ít. Phần lớn bệnh nhân nữ thuộc thế hệ trước, nhiều người trong số họ không phải là người mang lại thu nhập chính trong gia đình. Còn tất cả những bệnh nhân nam mà tôi chăm sóc đều tiếc rằng họ dành quá nhiều thời gian cho guồng quay liên tục của công việc.

3.  Tôi ước gì mình có can đảm để thể hiện cảm xúc thật của mình.

“Rất nhiều người phải kiềm nén cảm xúc thật để tạo một không khí hoà bình và làm hài lòng những người xung quanh. Vì lẽ đó, họ sống một cuộc sống bình thường và không bao giờ  trở thành một ai đó tốt hơn trong khi họ hoàn toàn có khả năng làm điều đó. Rất nhiều căn bệnh có nguồn gốc từ một cuộc sống nhiều cay đắng và tiếc nuối như thế.

4. Tôi ước gì mình giữ liên lạc với những người bạn của mình nhiều hơn.

“Rất nhiều người không thật sự nhận ra sự quý giá của tình bạn cho đến khi chuẩn bị lìa xa cõi đời, Khi đó thật khó để tìm kiếm lại những người bạn cũ đó. Nhiều người vì quá bận rộn với cuộc sống riêng và để cho tình bạn trôi đi theo thời gian. Họ tiếc nuối vì đã không dành nhiều thời gian và nỗ lực cho bạn của họ. Tất cả đều nhớ bạn bè khi họ sắp chết.”

5. Tôi ước gì tôi cho phép bản thân mình được hạnh phúc hơn

Đây là một điều khá bất ngờ. Rất nhiều người không nhận ra rằng hạnh phúc là một sự chọn lựa. Họ bị “mắc kẹt” trong những chuẩn mực và thói quen hàng ngày. Cái gọi là “sự thoải mái” quen thuộc đã chế ngự những cảm xúc và cả thể xác. “Nỗi sợ thay đổi” khiến họ trở nên giả tạo với người khác, và với chính bản thân mình, cho rằng họ đang hài lòng với những gì mình có. Nhưng tận sâu trong đáy lòng, họ ước được cười một cách thoải mái và có chút gì đó điên rồ trong cuộc sống.”

 

 Còn bạn thì sao, cho đến hiện tại, đâu là điều bạn tiếc nuối nhất? Và bạn sẽ làm gì để thay đổi và đạt ước nguyện của mình trước khi quá trễ?

(Dịch từ http://www.guardian.co.uk/lifeandstyle/2012/feb/01/top-five-regrets-of-the-dying)