BITCOIN, TIỀN KỸ THUẬT SỐ VÀ BLOCKCHAIN: ẢO ẢNH HAY PHÉP LẠ?


Bài của MATTHIEU MONTALBAN, Đại học Bordeaux

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnBitcoin, crypto-monnaies et blockchain: mirage ou miracle?Alternatives Economiques, 18/11/2017.

Những thực tiễn liên quan đến Bitcoin và blockchain (chuỗi khối hay công nghệ chuỗi khối) đang bắt đầu lan rộng. Đối với một số người, đó chỉ là một vật dụng mới lạ, hoặc là một trò bịp, đối với một số người khác đó là một cuộc cách mạng thực sự có thể làm biến đổi hệ thống tiền tệ và tài chính, hoặc thậm chí cả hệ thống kinh tế, một cách lâu dài. Trong bài viết này, chúng tôi điểm qua nguồn gốc, những tiềm năng và rủi ro liên quan đến các loại tiền kỹ thuật số và blockchain. Bài viết này sẽ tập trung vào các loại tiền kỹ thuật số như Bitcoin. Sau khi giới thiệu nền tảng triết học của các loại tiền kỹ thuật số, chúng tôi sẽ xem xét những nguyên nhân và lợi thế giải thích sự phát triển của Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác. Sau đó chúng tôi sẽ thảo luận về những hạn chế của chúng và những phê phán có thể có.

Nền tảng triết học của các loại tiền kỹ thuật số

Bitcoin là sản phẩm của một dự án chính trị và blockchain là công nghệ đã làm cho dự án này trở nên khả thi. Ít nhất là từ cuối những năm 1970 và từ bài viết của Friedrich Hayek về dự án phi quốc gia hóa tiền tệ[1] , thì một trong những điều ám ảnh của những người theo chủ nghĩa tự do triệt để (một tên gọi khác của những người theo chủ nghĩa tư bản vô chính phủ hoặc chủ nghĩa tự do cực đoan) là giải phóng việc tạo sinh tiền tệ khỏi ảnh hưởng của ngân hàng trung ương và Nhà nước. Theo họ, ảnh hưởng này chịu trách nhiệm về tình hình lạm phát và về những rủi ro quá mức của ngân hàng. Các nhà tự do cực đoan đã nảy sinh nhiều dự án trong đầu, được trường phái Áo truyền cảm hứng, như dự án free banking (các ngân hàng tư nhân cạnh tranh với nhau trong việc phát hành chính đồng tiền riêng của mình, mà không cần đến ngân hàng trung ương với vai trò người cho vay cuối cùng), sự quay trở lại với vàng, tiền tệ 100% (cấm các ngân hàng cho vay vượt mức tiền được kí gởi, một hệ thống được những người tự do cực đoan gọi là hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ).

Bitcoin được phát minh sau cuộc khủng hoảng năm 2008, được cho là để bổ khuyết những điểm yếu của hệ thống tiền tệ và tài chính, tiến gần đến lý tưởng tư bản chủ nghĩa vô chính phủ về một “đồng tiền tự do”, nhằm làm suy yếu sự độc quyền trong việc phát hành tiền tệ của các ngân hàng trung ương và ngân hàng tư nhân. Do Satoshi Nakamoto, một hoặc nhiều người ẩn danh, sáng tạo (nhiều đồn đoán đang phát triển rất nhanh để tìm ra đó là ai), Bitcoin là một đồng tiền kỹ thuật số, được phát hành theo cách phi tập trung, không có sự kiểm soát của Nhà nước, nhưng được kiểm soát bởi một thuật toán đảm bảo tính an toàn của các giao dịch và không có nạn thao túng hoặc “in tiền giả”. Nói tóm lại, đó là giấc mơ của một phiên bản tiền tệ tư bản chủ nghĩa vô chính phủ của Thung lũng Silicon. Kể từ khi có Bitcoin, đã có nhiều loại tiền kỹ thuật số khác và các blockchain khác được phát minh (như Ethereum, Litecoin, Peercoin, v.v..). Một số người theo chủ nghĩa tự do cánh tả cũng có vẻ rất phấn khích với đồng tiền này, vốn tấn công vào các ngân hàng và uy quyền của các Nhà nước.

Nguồn gốc phát triển của blockchain Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác

Để được thể chế hoá, một loại tiền tệ cần phải có sự tin tưởng: người sử dụng nó cần tin rằng nó sẽ được chấp nhận như là một phương tiện thanh toán và giá trị của nó được đảm bảo bằng cách này hay cách khác. Nói chung, có ba nguồn gốc được cho là tạo ra niềm tin vào một loại tiền tệ: sự tin tưởng về mặt phương pháp, liên quan đến việc sử dụng hợp lý biểu tượng (tôi biết người khác sử dụng đồng tiền đó, vì vậy tôi sử dụng đồng tiền đó), sự tin tưởng về mặt thứ bậc, liên quan đến sự tồn tại của một bên thứ ba đáng tin (tôi biết hệ thống thanh toán được ngân hàng trung ương và mạng lưới các ngân hàng tư nhân đảm bảo) và sự tin tưởng về mặt đạo đức (việc phát hành tiền tệ được thực hiện theo các quy tắc được hợp pháp hóa)[2] . Trong một thời gian dài, người ta cho rằng, để đảm bảo sự tin tưởng vào một loại tiền tệ nào đó, thì sự tin tưởng về mặt thứ bậc và Nhà nước là điều cần thiết. Bitcoin cố gắng bỏ qua trung gian tập quyền đó, điều mà các nhà tự do triệt để và các nhà tân tự do đã luôn phê phán do có thể có việc thao túng lạm phát về lượng tiền để đảm bảo nguồn tài chính cho Nhà nước.

Để làm được như trên, các loại tiền kỹ thuật số dựa vào một kỹ thuật mã hoá và kiểm tra tự động, huy động sức mạnh tính toán của tất cả các máy tính tham gia hệ thống mạng: đó là blockchain. Đây là một loại cơ sở dữ liệu lớn phi tập trung đóng vai trò là sổ kế toán, một sổ, có tính phân phối, minh bạch và an toàn, ghi lại tất cả các giao dịch kể từ khi khởi động hệ thống, tự động hóa việc xác minh các giao dịch bằng cách huy động sức mạnh tính toán của tất cả các máy tính đang tham gia mạng, mà không cần sự kiểm soát tập trung và trên cơ sở đồng thuận. Nó có thể được đồng nhất với một kiểu hệ thống phi tập trung tổ chức và kiểm soát sự chuyển nhượng quyền sở hữu. Vì vậy, nó không cần đến bên thứ ba đáng tin (niềm tin về mặt thứ bậc). Đối với từng khối giao dịch, mỗi máy tính sẽ thực hiện những công việc xác minh tốn kém về mặt tính toán và năng lượng (Proof of work hay bằng chứng công việc trong trường hợp của Bitcoin) cho phép duy trì độ tin cậy, kể cả khi đối mặt với các nỗ lực ác ý của tin tặc trong việc phổ biến những thông tin sai lệch. Hệ thống này được các chuyên gia về mật mã coi là gần như bất khả xâm phạm.

Một khi đã huy động sức mạnh tính toán của nhiều máy tính, thì cần khuyến khích người dùng tham gia hệ thống mạng ngày càng nhiều và đảm bảo việc phát hành Bitcoin. Sự khéo léo xuất phát từ việc là, khi đưa máy tính của mình vào hệ thống mạng, chủ sở hữu của mỗi máy tính sẽ giải quyết được vấn đề được gọi là đào vàng (và các máy tính là những “máy đào vàng”), và được trả thù lao bằng các Bitcoin. Về cơ bản, Bitcoins được phát hành để bù đắp cho chi phí về tiền điện và sức mạnh tính toán của máy tính [tham gia hệ thống mạng]. Do thuật toán của Bitcoin được thiết kế để phát hành đồng tiền có hạn chế này, nên giá trị của nó so với các loại tiền có chủ quyền phải có xu hướng tăng lên, khuyến khích người đào “vàng” đào ngày càng nhiều và như thế đảm bảo sự phát hành đồng tiền kỹ thuật số. Sau đó, đồng tiền kỹ thuật số này có thể được chuyển đổi, ở các dạng nền tảng hoạt động như là một phòng thu đổi ngoại tệ, sang một đồng tiền có chủ quyền hoặc một đồng tiền kỹ thuật số khác.

Bitcoins được giao dịch không thông qua các trung gian ngân hàng và vì vậy tiết kiệm được các chi phí giao dịch liên quan đến hoạt động trung gian ngân hàng (phí hoa hồng, phí duy trì tài khoản, v.v..). Việc chuyển khoản hoặc chuyển đổi Bitcoins thành một đồng tiền có chủ quyền diễn ra khá dễ (hay đúng hơn từng là khá dễ, là điều mà chúng ta sẽ thấy dưới đây), điều này làm cho các giao dịch thanh toán trở nên khả thi ở bất kỳ điểm nào trên hành tinh trong một thời gian kỷ lục, tất nhiên, với điều kiện là các bên trong giao dịch chấp nhận nó. Hơn nữa, việc chuyển khoản này chỉ có thể được thực hiện nếu Bitcoins đã có trong một tài khoản trước đó, ở đây không có hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ (các ngân hàng không thể tạo ra tiền bằng tín dụng), điều mà, trong tầm nhìn của giới tự do cực đoan, là một phẩm hạnh bảo vệ chống lại các rủi ro lạm phát và nạn in tiền giả mà họ cáo buộc cho các ngân hàng.

Như vậy, Bitcoin có thể được coi là một dạng vàng kỹ thuật số, và chế độ tiền tệ mà nó sẽ thiết lập, nếu được phổ biến rộng (chúng ta sẽ thảo luận sau tính khả thi của kịch bản này), sẽ giống như chế độ bản vị vàng (thuật ngữ “đào vàng” được sử dụng có chủ đích).

Bitcoin, một sản phẩm đầu cơ

Có một chỉ trích chính là Bitcoin là một sản phẩm đầu cơ thuần túy. Không ai tranh cãi việc Bitcoin là một tài sản đầu cơ: hầu hết những người đầu tư vào các loại tiền kỹ thuật số này đều làm như vậy để có một thu nhập cao. Trong thực tế, Bitcoin tăng giá theo thời gian và căn cứ vào sự tăng giá đó, người ta có thể tự hỏi, một cách chính đáng, liệu đó có phải là một bong bóng [đầu cơ] không: https://www. coindesk. com/price/

Liệu đó có phải là một bong bóng [đầu cơ] không? Trong trường hợp này, thuật toán của Bitcoin làm cho việc tạo tiền bằng Bitcoin được giới hạn ở mức 21 triệu đơn vị. Các bạn đã đọc rõ chứ: tất cả sẽ chỉ có 21 triệu Bitcoins được tạo ra cuối cùng, biết rằng hiện nay đã có 12 triệu Bitcoins đã được tạo ra. Vì vậy, nó là một đồng tiền hiếm theo định nghĩa và điều này giải thích một phần sự thành công của nó, vừa là một dạng giá trị ẩn náu và bởi vì nó có thể dẫn đến một hình thức tin tưởng về mặt đạo đức, khi mà việc tạo ra tiền không thể bị thao túng. Bitcoin được coi là một dạng giá trị ẩn náu và các tác nhân tiên đoán rằng giá Bitcoin sẽ tăng lên, do quy mô hệ thống mạng và sự lan rộng của Bitcoin tăng lên trong khi khối lượng Bitcoin có giới hạn.

Vì vậy, đồng tiền ảo này không có tính ổn định bởi vì nó tăng giá cao và là đối tượng đầu cơ. Nếu như một đồng tiền như thế và một chế độ tiền tệ như thế được thể chế hóa và phổ cập hóa, thì sẽ thấy xảy ra các cơ chế giảm phát, mà hiệu ứng của chúng sẽ có khả năng tác động tiêu cực lên hoạt động tiền tệ, một cách tiềm tàng. Thực vậy, tình trạng giảm phát làm tăng nợ, có hiệu ứng xiết nợ (các doanh nghiệp, hộ gia đình hoặc Nhà nước), cụ thể là những tác nhân có khuynh hướng tiêu dùng cao nhất. Người ta có thể sẽ lập luận rằng khi giá cả giảm thì sẽ làm tăng sức mua tiền mặt và từ đó làm tăng tiêu dùng, nhưng hiệu ứng được gọi là tiền mặt thực tế này nói chung là khá yếu. Hơn nữa, nếu tiền lương là không linh hoạt so với giá cả (một điều vốn thường là như vậy), thì tình trạng giảm phát làm giảm lợi nhuận và giảm bớt động lực đầu tư. Hiện tại, khi chúng ta đang ở trong chế độ tiền tệ có chủ quyền, khi Bitcoin không được sử dụng để ấn định giá cả và tiền lương, thì hiệu ứng giảm phát này khó có thể xảy ra và sự tăng giá của tài sản này [Bitcoin] chủ yếu mang tính đầu cơ.

Các phương tiện thanh toán được tạo ra không căn cứ vào nhu cầu thanh khoản gắn với sự lưu thông tiền tệ, mà căn cứ vào hoạt động đào vàng, mà hiệu suất giảm dần theo thời gian (xác suất mà một máy tính đào được một Bitcoin giảm dần). Nếu mọi người có thể cho vay bằng Bitcoins để tài trợ cho hoạt động kinh doanh này hay hoạt động kinh doanh khác, thì các khoản nợ và giấy nợ này không thể tạo ra tiền, và cũng không thể được lưu thông như tiền thông qua blockchain của Bitcoin. Người ta sẽ tiến gần hơn đến lý tưởng của một Maurice Allais hoặc một số nhà tự do cực đoan người Áo, những người muốn tách chức năng tiền tệ và cho vay bằng cách ngăn cấm những khoản tiền dự trữ theo tỷ lệ.

Tuy nhiên, Bitcoin không ngăn cấm hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ: nếu một ngân hàng tạo ra các tài khoản bằng Bitcoin, thì không có gì ngăn cản họ đưa đồng tiền đó vào lưu thông, thông qua tín dụng, các phương tiện thanh toán (ngân phiếu, ví dụ) vượt quá mức dự trữ bằng Bitcoin của ngân hàng. Nhưng để làm được điều này, đòi hỏi các ngân hàng phải cung cấp một dịch vụ thú vị hơn, vì tính minh bạch của sổ kế toán và vì các tác nhân trong hệ thống mạng có thể có những tài khoản/ví tiền (“wallet”) riêng của mình mà không cần đến các ngân hàng. Đặc biệt khi mục tiêu của Bitcoin là bỏ qua trung gian ngân hàng, bằng cách cung cấp dịch vụ với chi phí giao dịch thấp hơn. Hơn nữa, trong một hệ thống “được bitcoin hóa” hoàn toàn, thì các ngân hàng vẫn chịu những hạn chế định lượng về trữ lượng Bitcoin, giống như vàng có thể phần nào đó hạn chế sự mở rộng tín dụng trong bản vị vàng. Vì vậy, có nhiều khả năng để đặt cược rằng chế độ tiền tệ này sẽ mang tính giảm phát và tiêu cực cho mức độ hoạt động kinh tế vì độ co dãn thấp của nó. Trong một kịch bản như vậy, nó sẽ kéo theo việc biến mất hoàn toàn của công cụ chính sách tiền tệ.

Sự thiếu vắng các quy định mở đường cho các hoạt động bất hợp pháp

Các hoạt động được gọi là Initial Coin Offerings (ICO, hình thức huy động vốn đầu tư thông qua việc phát hành những tài sản số đổi lấy tiền kĩ thuật số – ND), nghĩa là những đợt phát hành các token (thẻ số) với lãi suất ưu đãi cho những nhà đầu tư bằng Bitcoin và để tài trợ cho các start-up [doanh nghiệp khởi nghiệp] đào vàng đổi lấy đồng tiền có chủ quyền, không bị điều tiết và phát triển nhằm tránh hoạt động tài trợ truyền thống bằng cổ phiếu với các quy định kèm theo. Trong các ICOs, các token tiền kỹ thuật số được phát hành đến kỳ hạn không cho nhà đầu tư quyền được hưởng cổ tức và quyền bỏ phiếu, mà là cho quyền được mua một trong những sản phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ cung cấp sau này, hoặc bán lại các token tiền kỹ thuật số có được với một mức gia tăng của giá trị khi thời giá tăng lên. Nhưng khi tiền kỹ thuật số rớt giá, thì các nhà đầu tư sẽ mất tất cả. Cơ quan quản lý các thị trường tài chính [Autorité des Marchés Financiers] lo ngại các hoạt động này và đang suy nghĩ về các biện pháp để điều tiết chúng. Trong các ICO này, có nhiều trường hợp lừa đảo có thể làm suy yếu niềm tin vào đồng tiền ảo này. Ngoài ra, tiền kỹ thuật số thường được sử dụng trong việc rửa tiền các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp. Nói tóm lại, sự thiếu vắng điều tiết khuyến khích những hành vi dẫn đến tranh chấp. Sự đổi mới tài chính và tiền tệ thường là một cách để lẩn tránh các quy định để giao dịch những thương vụ đáng ngờ, Bitcoin không phải là một ngoại lệ.Liệu Bitcoin có thực sự là một đồng tiền không, hay là một vụ lừa đảo in tiền giả, như khẳng định của một số người, trong đó có Jamie Dimon, giám đốc Ngân hàng JPMorgan Chase? Hãy nhớ rằng một đồng tiền chỉ là đồng tiền bởi vì nó được coi là như vậy theo quy ước. Điều này có nghĩa là nếu một ngày nào đó Bitcoin được chấp nhận như là một đồng tiền, nghĩa là nếu nó tạo đủ niềm tin để cho phép mua hàng, thì nó sẽ là một đồng tiền. Trong số các yếu tố có thể nuôi dưỡng sự ngờ vực, đã có nhiều trường hợp lừa đảo tiền kỹ thuật số, có thể tạo ra sự ngờ vực của công chúng và chỉ ra rằng một kỹ thuật, dù có bất khả xâm phạm đến đâu, cũng có thể là chưa đủ để tạo ra niềm tin. Đồng thời, cũng có trường hợp những hệ thống Ponzi (gian lận) trên Bitcoin.

Một đồng tiền chưa hoàn chỉnh

Hơn nữa, một tiền tệ mang tính hoàn chỉnh nếu kết hợp được các chức năng của đơn vị hạch toán, phương tiện thanh toán, và dự trữ giá trị. Hiện tại, Bitcoin được sử dụng chủ yếu như là dự trữ giá trị và là phương tiện thanh toán cho một số sản phẩm nhất định trên Internet, hoặc trong thời gian gần đây tại một vài cửa hàng cụ thể ở Nhật Bản và Đức. Các trang web hoặc doanh nghiệp này chấp nhận Bitcoin như là một phương tiện thanh toán bởi vì thuật toán được đảm bảo an toàn và bởi vì họ dự đoán rằng họ sẽ có thể chuyển đổi Bitcoins thành đồng tiền có chủ quyền, có nhiều khả năng với một mức giá trị thặng dư căn cứ vào sự tăng trưởng của thời giá.

Nhưng, Bitcoin chưa thực sự có được chức năng là đơn vị hạch toán, ngoại trừ trong những giao dịch giữa các loại tiền kỹ thuật số, nơi mà Bitcoin là đồng tiền tham chiếu. Vì vậy, nó không thể được coi là một đồng tiền hoàn chỉnh. Nhân tố chính có thể làm chậm việc sử dụng các loại tiền kỹ thuật số này xuất phát từ các Nhà nước và các ngân hàng trung ương, những tác nhân có toàn quyền quyết định về đơn vị hạch toán trên lãnh thổ của mình và bắt buộc trả tiền thuế bằng đồng tiền quốc gia. Yêu cầu bắt buộc này đảm bảo đồng tiền quốc gia được sử dụng vừa như là đơn vị hạch toán và vừa là phương tiện thanh toán. Hơn nữa, các Nhà nước rất có thể quyết định cấm lưu thông Bitcoin và các loại tiền kỹ thuật số khác, để tạo ra loại tiền kỹ thuật số của riêng họ, theo nhiều quy tắc phát hành khác nhau cho vấn đề được gọi là phát hành tiền tệ: đây là những gì mà Nga, Estonia và Việt Nam đang nghĩ đến.

Một số điều gọi là lợi thế của Bitcoin đang biến mất. Trước tiên, khi số lượng các giao dịch tăng lên, thì cần nhiều thời gian hơn để xác minh một giao dịch, đôi khi cần đến vài chục phút, điều này không mấy thuận tiện. Ngoài ra, khi không có các phương tiện thanh toán tương đương, như thẻ tín dụng hoặc tiền giấy, thì hiện tại có rất ít khả năng để sử dụng loại tiền này trong các giao dịch hàng ngày ở siêu thị hoặc ở quán cà phê. Hoặc việc chuyển đổi Bitcoin thành US$ đã tạo ra các chi phí giao dịch ngày càng tăng (đạt mức 5.5US$ vào tháng 6 năm ngoái và xu hướng tăng lên cho mỗi giao dịch), làm giảm lợi ích của đồng tiền kỹ thuật số trong các giao dịch có giá trị thấp. Tất cả điều này được giải thích bởi chi phí về tính toán và năng lượng của việc duy trì blockchain Bitcoin.

Một chế độ [tiền tệ] không bền vững

Dựa vào xác suất giảm dần trong khả năng đào được vàng, các máy tính cần phải chạy ngày càng lâu hơn để có được Bitcoin, hoặc cần phải huy động ngày càng nhiều máy tính hơn. Người ta thấy rằng Bitcoin quả thực là rất hao tốn về năng lượng, bởi vì giao thức xác minh (Proof of work – bằng chứng công việc) huy động rất nhiều năng lượng và sức mạnh tính toán, và điều đó càng nhiều hơn nữa khi số lượng các giao dịch tăng lên.

Hiện tại, khi Bitcoin chưa được phổ biến rộng rãi, người ta ước tính rằng mức tiêu thụ điện để làm cho blockchain này hoạt động tương đương với mức tiêu thụ điện của Ireland. Và mức này đang ngày càng tăng lên, vì vậy nó không có tính bền vững về mặt năng lượng. Theo cách điên rồ nhất, một số người Nga và người Trung Quốc cho hàng trăm máy tính hoạt động liên tục để đào Bitcoins (người ta đang nói đến các trang trại đào vàng). Khi hiệu suất ngày cần thấp dần, thì các trang trại đào coin luôn cần đến nhiều máy tính hơn để có thể giải quyết các vấn đề tính toán… Người ta đã thấy sự phân bổ nguồn lực thông minh hơn cho tập thể. Vả lại, có một điều gì đó khôi hài, đó là Bitcoin được tạo ra để hạn chế cái gọi là in tiền giả nhà nước, nhưng điều đó có vẻ như không cản trở những người cổ xúy Bitcoin rằng có người, để kiếm sống (một số người đã trở thành triệu phú) chỉ việc cho các máy tính hoạt động suốt ngày để giải quyết những vấn đề viễn vông khi tiêu thụ năng lượng mà lẽ ra năng lượng đó chắc chắn sẽ được sử dụng tốt vì mục đích khác; một hoạt động trông rất giống với một hoạt động “thực” về in tiền giả.

Tuy nhiên, về lâu dài, khi hiệu suất đào vàng giảm dần trong khi các chi phí về năng lượng và giao dịch tăng lên, thì lợi ích của việc đào Bitcoin sẽ giảm, thậm chí biến mất. Liệu có ai đó quan tâm đến việc để cho máy tính của mình chạy liên tục mà không có bất kỳ hy vọng nào đào ra vàng không? Trong trường hợp này, đã có các loại tiền kỹ thuật số khác được tạo ra, như Litecoin hoặc Ethereum, với những giao thức ít tốn kém hơn về mặt năng lượng, nhưng điều vẫn cần được chứng minh là tất cả hệ thống này có tính bền vững.

Để cho sòng phẳng, cần phải so sánh chi phí các blockchain của các loại tiền kỹ thuật số với chi phí của các hệ thống thanh toán hiện có. Chi phí này không phải bằng không, trái với những gì người ta có thể đôi khi nghe thấy: cần có các máy rút tiền, các thiết bị thanh toán đầu cuối, chi phí in tiền, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin… Nhưng người ta cũng cảm thấy cần phải xem xét lại những lợi thế từng được ca tụng của Bitcoin.

Hơn nữa, khi chi phí các giao dịch tăng lên, để có thể sử dụng Bitcoins trong đời sống hàng ngày, thì các ngân hàng có thể có một giải pháp là phát hành những phương tiện thanh toán “cụ thể” (ngân phiếu) để đổi lấy Bitcoins, làm mất đi triết lý ban đầu của Bitcoin khi mà hoạt động ngân hàng quay trở lại và đi kèm với hoạt động ngân hàng đó, là khả năng của hệ thống tiền dự trữ theo tỷ lệ. Các ngân hàng vẫn chưa chịu thua. Tuy nhiên, tôi không nghi ngờ rằng giá trị của Bitcoin sẽ tiếp tục tăng thêm nữa, miễn là chi phí biên của việc đào vàng thấp hơn giá trị của bitcoin (việc so sánh giá trị/chi phí sản xuất sẽ xác định mức sản xuất; lợi tức kỳ vọng ấn định mức cầu) và miễn là Nhà nước không có các biện pháp để ngăn cấm hoặc điều tiết việc phát hành Bitcoin. Điều này sẽ còn tạo ra, trong một thời gian, một sự lãng phí năng lượng và nguồn lực một cách vô lý.

Khó xảy ra sự “phá vỡ” của ngành ngân hàng và tài chính bởi các loại tiền kỹ thuật số

Lý do cuối cùng có khả năng làm chậm sự phát triển của loại tiền kỹ thuật số là phản ứng của cơ chế độc quyền dịch vụ ngân hàng, mà dù thế nào vẫn có thể bị các loại tiền kỹ thuật số, blockchain và tổng quát hơn là toàn bộ ngành Fintech [công nghệ tài chính] đe dọa. Nhưng hãy nhìn nhận rằng việc “phá vỡ” ngành ngân hàng và tài chính để giảm bớt khả năng gây phiền toái của nó và sự phụ thuộc của chúng ta có thể không hoàn toàn làm cho chúng ta không hài lòng.

Cuối cùng, ngay cả khi Bitcoin trở thành một phương tiện thanh toán cho hoạt động thương mại điện tử, thì cũng có rất ít khả năng nó “phá vỡ” được các đồng tiền quốc gia. Nếu Bitcoin được phổ cập là đồng tiền thay thế cho đồng tiền có chủ quyền, thì sẽ đặt ra những vấn đề nghiêm trọng về giảm phát, vì sự cứng nhắc của quá trình tạo ra tiền của nó và vì việc tạo ra tiền đó không điều chỉnh được với nhu cầu về thanh khoản. Nếu Bitcoin, giống như các loại tiền kỹ thuật số khác, chỉ là những tài sản đầu cơ, thì điều tốt nhất là lợi ích của chúng là hạn chế, và điều tồi tệ nhất là chúng mang tính tiêu cực. Kịch bản có nhiều khả năng xảy ra nhất trong trung hạn là kịch bản của việc cùng tồn tại giữa các đồng tiền quốc gia và các loại tiền kỹ thuật số. Các loại tiền kỹ thuật số này sẽ được sử dụng trong một số giao dịch và được một số doanh nghiệp và quày hàng chấp nhận, trong khi các đồng tiền quốc gia sẽ vẫn giữ vai trò nòng cốt do thời giá hợp pháp và vai trò trong thanh toán thuế của chúng.

Đồng tiền kỹ thuật số có những hạn chế quan trọng, nhưng kỹ thuật cơ bản, blockchain, có nhiều ứng dụng tiềm năng. Chúng ta sẽ xem xét vấn đề này trong một bài viết khác.

Tôi muốn xây dựng nên một ty quan trọng với thế giới!


with hung tran

Bài phỏng vấn của tôi với Trần Việt Hùng, sáng lập GotIt, đăng trên tạp chí Doanh nhân Sài gòn cuối tuần.

Link tại: http://doanhnhanplus.vn/kinh-doanh/doanh-nhan-tro-chuyen/toi-muon-xay-dung-nen-mot-cong-ty-quan-trong-voi-gioi.html

Got It đang là cái tên “hot” tại Silicon Valley, cái nôi của giới khởi nghiệp nước Mỹ. Cách đây sáu năm khi còn là nghiên cứu sinh Tiến sĩ ngành Khoa học máy tính tại Đại học Iowa, Trần Việt Hùng bắt đầu giấc mơ của mình khi tạo ra nền tảng gia sư trực tuyến Tutor Universe, tiền thân của Got It. Sau một chặng đường nhiều thăng trầm, Got It gọi vốn được 9 triệu USD cho vòng hạt giống và series A, hiện chuẩn bị cho vòng gọi vốn tiếp theo để tăng trưởng. Không dừng lại ở ứng dụng hỏi – đáp trực tiếp cho lĩnh vực giáo dục, Việt Hùng có tham vọng mở rộng ra kết nối tri thức ở mọi lĩnh vực. Tháng 6-2017, anh công bố nền tảng chia sẻ “kiến thức như một dịch vụ” (Knowledge as a Service – KaaS) đầu tiên trên thế giới giúp kết nối người dùng với các chuyên gia ở mọi lĩnh vực. Got It hiện chỉ có phiên bản cho người dùng sử dụng tiếng Anh, hứa hẹn sẽ mở rộng đa ngôn ngữ trong tương lai gần. Nhân sự của Got It là những kỹ sư tài giỏi xuất thân từ nhiều quốc gia với hai văn phòng tại Mỹ và Việt Nam. Mới ngày nào, có ứng viên đến phỏng vấn rồi bỏ về vì chê văn phòng tuềnh toàng, giờ đây Got It tại Việt Nam đã có cơ ngơi khang trang với tầm nhìn toàn cảnh Hà Nội tuyệt đẹp từ tầng 12 của một tòa nhà lớn ở phố Thụy Khê. “Văn phòng hiện có gần 40 nhân viên nhưng sẽ mở rộng lên 100 trong năm 2018, nên chắc phải kiếm một địa điểm mới” – Việt Hùng hào hứng cho biết, chỉ vài giờ trước khi lên máy bay quay lại Mỹ sau chuyến thăm quê hương ngắn ngày.

Tranh Hoàng Tường
Sau một Got It Study gây tiếng vang toàn cầu, Got It Pro đang bắt đầu chào sân, hứa hẹn làm thay đổi hoàn toàn thói quen của người dùng với các thắc mắc chuyên môn, anh có thể giải thích rõ hơn về nền tảng mới nhất này?

Đây là nền tảng dành cho nhóm người dùng lớn tuổi hơn đối tượng học sinh – sinh viên đang sử dụng Got It Study. Dù bạn làm việc ở bất cứ ngành nghề gì, sẽ luôn có những thắc mắc chuyên môn mà không phải lúc nào cũng được giải đáp nhờ tìm kiếm trên Google hay từ các trang web cộng đồng. Chúng tôi muốn tạo ra nền tảng kết nối người dùng và chuyên gia ở khắp nơi trên thế giới. Bất kỳ ai với kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực của mình đều có thể trở thành chuyên gia và bất kỳ khi nào có mười phút rảnh bạn đều có thể làm việc trên nền tảng của Got It để giúp đỡ người khác và kiếm thêm thu nhập.

Lĩnh vực đầu tiên chúng tôi muốn nhắm đến là Microsoft Excel, một trong những phần mềm phổ biến nhất thế giới của dân văn phòng. Theo nghiên cứu thị trường, nhu cầu giải đáp thắc mắc của người dùng Excel là rất lớn. Mặc dù mới ở chế độ thử nghiệm (beta) được vài tháng, chúng tôi đã nhận được hơn 20 ngàn câu hỏi gửi về cho nền tảng này. Bằng cách tích hợp một ô cửa sổ trò chuyện vào ngay trên giao diện Excel, người dùng có thể chat trực tiếp với chuyên gia và cùng thao tác với chuyên gia ngay trên file Excel. Chắc bạn cũng thấy, mỗi khi gặp vấn đề gì về công nghệ thông tin, nếu không có ai để hỏi, chúng ta thường hỏi “bác Google” đúng không? Và sẽ ra vô vàn kết quả, đôi khi khiến ta càng thêm mơ hồ vì chỉ có thể tương tác một chiều với câu trả lời. Đối với câu hỏi rất cụ thể, ví dụ tại sao hàm SUMIF không làm việc với dữ liệu ABC của tôi ở cột B, “Google” sẽ không thể nào tìm ra kết quả. Với giải pháp Got It Pro cho Excel, rất nhanh bạn đã có thể được kết nối với chuyên gia. Chúng tôi dùng công nghệ AI – Trí tuệ nhân tạo để xếp hạng và đánh giá các chuyên gia, giúp quá trình kết nối diễn ra hiệu quả nhất. Thuật toán ExpertRank – Xếp hạng chuyên gia sẽ đảm bảo kết nối bạn với chuyên gia phù hợp nhất cho câu hỏi của bạn trong từng lĩnh vực với năng lực tư vấn được đánh giá cao từ những lần tương tác trước đó.

Sau Excel, chúng tôi dự định tung ra Got It Dev dành cho các lập trình viên. Hiện chúng tôi đang hoàn thiện mô hình kinh doanh cho Got It Pro. Cụ thể, mức phí dự kiến là 7,99 USD cho nhóm câu hỏi dễ và 14,99 USD cho nhóm câu hỏi khó. Chúng tôi đang cân nhắc về chọn đơn vị thời gian tư vấn để tính phí cho hợp lý. Không chỉ Excel, trong tương lai, nền tảng Got It Pro có thể tích hợp vào rất nhiều lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ hỏi đáp giữa người dùng và chuyên gia trên toàn thế giới.

Sergey Brin và Larry Page đã bỏ ngang bằng tiến sĩ Khoa học máy tính để lập ra Google với thuật toán PageRank, xếp hạng các trang web tìm kiếm. Hơn 20 năm sau, Trần Việt Hùng, khác một chút là đã tốt nghiệp tiến sĩ ngành này, đang xây dựng Got It với thuật toán ExpertRank xếp hạng các chuyên gia, với mong muốn tạo ra giải pháp tìm kiếm nhanh và chất lượng hơn Google. Có vẻ lịch sử đang lặp lại với sự xuất hiện của một sản phẩm vô cùng hứa hẹn?

Mọi thứ chỉ mới bắt đầu, bởi nhu cầu tri thức của con người là vô hạn. Nếu cần tìm kiếm nhanh, bạn không thể không dùng Google. Nhưng bản chất công cụ tìm kiếm như Google cũng có những mặt hạn chế. Thông tin sẽ khó đi sâu, thật sự có giá trị và bạn rất ít cơ hội được tương tác trực tiếp với một ai đó đủ uy tín và chuyên môn để bạn có thể tin tưởng. Cũng có những nền tảng để hỏi chuyên sâu như Quora hay StackOverFlow, nhưng bạn mất rất nhiều thời gian để có câu trả lời và cũng không có gì đảm bảo rằng câu trả lời đó là đúng. Với nền tảng Got It, bạn sẽ giải quyết được cả hai vấn đề: tốc độ kết nối và chất lượng của thông tin. Chặng đường còn rất dài nhưng tôi tin vào tầm nhìn của mình.

Thử thách lớn nhất của mô hình Knowledge as a Service Platform – Kiến thức như một dịch vụ của Got It là gì?

Đó chính là mở rộng quy mô, gia tăng số lượng chuyên gia và người dùng trong khi vẫn giữ được chất lượng dịch vụ.

Vậy anh sẽ làm thế nào để giải quyết thử thách này?

Chúng tôi phải thật sự hiểu người dùng. Got It Study đã làm được điều đó. Chúng tôi đã giúp người dùng giải đáp hơn 3 triệu câu hỏi, một con số khá lớn trong vòng hai năm.

Trong quá trình tìm hiểu người dùng, chúng tôi phải thay đổi liên tục, khi phát hiện ra họ muốn gì thì lập tức xây dựng sản phẩm theo hướng đó. Với Got It Study, chúng tôi quan sát họ chụp ảnh, thói quen post Facebook, hay sử dụng những app nào… Học sinh – sinh viên thường xài ứng dụng Snapchat, Instagram và Facebook cả ngày, dường như là bản năng. Chúng tôi thiết kế sản phẩm dựa trên những quan sát đó: Mỗi khi gặp vấn đề với bài giảng hay bài tập, học sinh – sinh viên chỉ cần chụp ảnh phần không hiểu rồi post lên nền tảng của Got It, sau đó kết nối và chat với các chuyên gia về học tập. Khi sản phẩm được đưa tới người dùng, nó phù hợp ngay với những gì đang diễn ra trong cuộc sống hằng ngày của họ. Khi công nghệ “gãi đúng chỗ ngứa”, người ta sẽ dùng ngay và khi có được trải nghiệm tốt, họ sẽ tự động chia sẻ, mời bạn bè dùng thử và chúng sẽ tự nhiên lan truyền với tốc độ chóng mặt.

Văn phòng của Got It ở Hà Nội được thiết kế rất hiện đại, đậm chất công nghệ và dự kiến phải mở rộng vì anh tuyển rất nhiều kỹ sư Việt Nam. Theo anh, đâu là điểm mạnh và điểm yếu của đội ngũ kỹ sư công nghệ trong nước?

Đối với Got It, cái gì ở đâu làm được tốt nhất, Việt Nam hay Silicon Valley, thì mình làm ở đó. Phần lớn công việc liên quan tới kỹ thuật, chúng tôi làm ở Việt Nam và luôn đầu tư rất mạnh vào nguồn lực con người để xây dựng một đội ngũ kỹ thuật tuyệt vời tại đây. Điểm mạnh thứ nhất của kỹ sư Việt Nam là mọi người làm việc rất chăm chỉ và “trâu bò”. Thứ hai, với một số kỹ năng cụ thể về lập trình, các bạn học khá nhanh. Còn hạn chế đầu tiên là ngoại ngữ, nhiều bạn rất tệ. Kế đến là tư duy về sản phẩm. Ở Việt Nam, tôi thấy nhiều công ty để cho các kỹ sư làm từ A đến Z khi xây dựng sản phẩm. Họ thường thích vẽ vời và ít khi nghĩ về người dùng. Cứ nghĩ sao để càng khó càng tốt, để chứng tỏ mình là kỹ sư giỏi, làm được những cái phức tạp, những thói quen này thường gây khó khăn cho người dùng cuối. Cần nghĩ đến sản phẩm, đến người dùng cuối.

Một điểm hạn chế nữa là trải nghiệm xuyên các nền văn hóa, là khả năng cộng tác, phối hợp và chủ động làm việc trong một đội ngũ mới, đến từ nhiều quốc gia. Thường kỹ sư Việt khá nhát và chịu lép vế. Có thể do ngoại ngữ kém khiến họ thiếu tự tin. Đó là những hạn chế bề nổi. Đào sâu một chút, kỹ sư Việt thường không có nền tảng học thuật mạnh, khiến họ rất khó trở thành một kỹ sư tương đương với đồng nghiệp ở Silicon Valley. Các công ty gia công phần mềm thường chỉ cần một đội ngũ lập trình đông đảo làm đúng những gì đối tác yêu cầu, ít quan tâm đến người dùng. Lập trình viên nhận việc và làm cho xong, ít khi đào sâu và thật sự hiểu bản chất vấn đề. Không nhiều kỹ sư có nền tảng đào tạo tốt, giỏi về giải thuật, thiết kế kỹ thuật, cấu trúc dữ liệu… Năm 2017, Got It nhận 1.700 hồ sơ nhưng số lượng tuyển được chỉ trên đầu ngón tay.

Đâu là nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế này, thưa anh?
Không hẳn do bằng cấp hay quá trình đào tạo mà do người ta không thật sự quan tâm, đào sâu. Thị trường đang rất khan hiếm nhân lực về công nghệ thông tin, nên các bạn học ngành này một cách làng nhàng cũng có thể kiếm được việc làm tốt ở các công ty gia công phần mềm. Do đó, chỉ những ai có tham vọng trở thành kỹ sư giỏi thì mới chịu khó tôi luyện, còn đa số không quan tâm và rất tự tin về khả năng kiếm việc của mình. Chúng tôi phải chấp nhận thực tế đó tại môi trường Việt Nam, không thể yêu cầu họ giỏi ngay được. Chính vì vậy Got It rất chú trọng đào tạo cho kỹ sư, xem họ giống như một phần mềm vậy, có phiên bản 1.0, 2.0, 3.0,… Chúng tôi luôn tạo điều kiện để phiên bản sau tốt hơn phiên bản trước. Công ty đầu tư mua giấy phép của các thư viện về sách vở, giáo trình, khóa học trực tuyến,… và liên tục đưa nhân viên qua Mỹ để họ trải nghiệm, học hỏi. Quá trình đào tạo của Got It rất khắc nghiệt, hai tháng đầu các bạn sẽ bị giã như giã giò để thấy rõ con đường trở thành một kỹ sư thật sự. Phải có nền tảng tốt, giải pháp đưa ra phải xuyên suốt, toàn diện, làm cái gì thì phải hiểu bản chất vấn đề. Không như nhiều bạn khi gia công phần mềm cứ lên mạng tìm mã nguồn mở rồi về chỉnh, cũng ra được sản phẩm nhưng không thật sự hiểu. Khi tìm kiếm kỹ sư ở nước ngoài cho Got It, chúng tôi có nhiều sự lựa chọn tốt như Đông Âu hay Ấn Độ, nhưng tôi chọn Việt Nam vì muốn kiểm chứng khả năng công nghệ của chúng ta. Rõ ràng chúng ta làm được, chỉ cần một môi trường để các bạn rèn luyện và cải thiện. Nếu tăng quy mô lên hơn 100 triệu user, nhiều thứ sẽ phá vỡ các lý thuyết, quy luật mà mọi người thường biết, đó mới là bài kiểm tra thật sự, để xem mình có thể thích nghi, học hỏi và tư duy ra sao.

GOT IT RẤT CHÚ TRỌNG ĐÀO TẠO CHO KỸ SƯ, XEM HỌ GIỐNG NHƯ MỘT PHẦN MỀM VẬY, CÓ PHIÊN BẢN 1.0, 2.0, 3.0,… CHÚNG TÔI LUÔN TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHIÊN BẢN SAU TỐT HƠN PHIÊN BẢN TRƯỚC.

Trong khi ở Silicon Valley, các startup, tập đoàn công nghệ lớn vẫn săn lùng nhân tài, thì nhiều nhân sự cấp cao từng làm cho các tập đoàn công nghệ lớn đã về với Got It. Anh làm thế nào để “chinh phục” họ?

Thời gian đầu vô cùng khó, phải mất rất nhiều thời gian. Như Matt Gabler, tôi mất 3-4 tháng mới thuyết phục anh ấy rời Lyft, đối thủ cạnh tranh lớn nhất của ứng dụng gọi xe Uber tại Mỹ, để về Got It đảm nhận vị trí Giám đốc Vận hành (Head of Operations). Họ đều là những người giỏi hơn mình nên chúng tôi phải nói rằng công ty thật sự rất cần kỹ năng, kinh nghiệm của họ và sẽ tạo điều kiện cho họ phát huy hết khả năng. Công ty cũng cam kết không để họ phải lo lắng chuyện tài chính, quan hệ đồng nghiệp…, họ chỉ cần tập trung vào công việc, đảm bảo sản phẩm đầu ra phải có đẳng cấp thế giới. Bây giờ đỡ hơn một chút, vì người ta nhìn thấy đội ngũ hiện tại rồi.

Bài học lớn nhất anh rút ra được từ đợt gọi vốn thành công 9 triệu USD là gì?

Phải xem mỗi lần đàm phán với các VC Firm – Quỹ đầu tư mạo hiểm, dù được hay không, là bài học quý giá. Với những người từ chối đầu tư, phải tìm cách biết lý do vì sao người ta từ chối mình, chẳng hạn xin một cuộc hẹn riêng uống cà phê, để lấy được phản hồi của họ, những suy nghĩ của họ về mình. Nếu không lấy được tiền thì phải lấy được phản hồi thật lòng của họ, rồi suy ngẫm xem có hợp lý không, mình bị thiếu cái gì, làm sao để làm tốt hơn cho lần sau…

VỚI NHỮNG NGƯỜI TỪ CHỐI ĐẦU TƯ, PHẢI TÌM CÁCH BIẾT LÝ DO VÌ SAO NGƯỜI TA TỪ CHỐI MÌNH. NẾU KHÔNG LẤY ĐƯỢC TIỀN THÌ PHẢI LẤY ĐƯỢC PHẢN HỒI THẬT LÒNG CỦA HỌ.

Vậy phản hồi mà anh thường nhận được từ những lần bị từ chối đầu tư là gì?

Có một ý được lặp đi lặp lại, họ nói ngành kinh doanh gia sư – hỏi đáp này sẽ là kiếm tiền khỏe, nhưng khó thể phát triển thành công ty lớn, một công ty kỳ lân (một startup với giá trị cực lớn và tăng trưởng cực nhanh) được. Người thì nói chúng tôi chẳng thấy “ông Việt Nam” nào ở đây thành công cả, nên… thôi. Nhưng cũng có nhiều nhà đầu tư thấy được tiềm năng của Got It và tin vào tương lai của chúng tôi. Tổng cộng chúng tôi gặp khoảng 50 quỹ, có khoảng 10 cuộc gặp hai bên thực sự quan tâm đến nhau, trong đó 3-4 quỹ chấp nhận đầu tư cho Got It và đưa ra các điều khoản đầu tư. Trong vòng 24 tiếng, chúng tôi phải đưa ra quyết định lựa chọn xem ai hợp với mình nhất, đồng thời phải nói sao để vẫn giữ quan hệ với các bên còn lại. Có nhiều startup sử dụng điều khoản đầu tư của quỹ này để đàm phán, kỳ kèo với quỹ khác, làm vậy thì khi mọi thứ vỡ lở, uy tín của startup ấy cũng giảm sút, rất khó gọi vốn trong những lần sau.

Đang là người cố vấn (mentor) cho rất nhiều startup Việt, anh thấy họ thường gặp phải vấn đề gì lớn?

Có hai vấn đề. Thứ nhất là nhà sáng lập quá cá nhân, xem mình là giỏi nhất. Điều đó sẽ tạo ra khó khăn bởi sự phát triển của công ty bị hạn chế bởi chính nhà sáng lập. Người ấy giỏi đến đâu thì công ty chỉ có thể đến đấy thôi. Không có người giỏi hơn, công ty không phát triển tiếp được. Ít nhà sáng lập Việt chịu để công ty cho một người giỏi hơn mình điều hành. Với Got It, tôi biết mình thiếu kinh nghiệm quản trị, ứng xử với các quỹ đầu tư, môi trường Mỹ nên giao việc đó cho ông Peter Relan, ban đầu là người đầu tư vào Got It và hiện tại là CEO của công ty, tôi tập trung vào mảng công nghệ, phát triển sản phẩm. Muốn công ty phát triển, nhà sáng lập không được giấu dốt và phải luôn coi việc tìm những người giỏi nhất cho công ty là nhiệm vụ hàng đầu.

Vấn đề thứ hai là khả năng xây dựng sản phẩm tốt. Nhiều người hay làm sản phẩm theo chủ quan, tự nghĩ ra xong lao đầu vào làm, ít khi chịu ra ngoài tìm hiểu trước nhu cầu của khách hàng. Rất nhiều nhà sáng lập không thật sự chú tâm phát triển sản phẩm, chỉ lo đi dự sự kiện, chụp hình check in khắp nơi. Có cái gì đó hơi hào nhoáng, phong trào. Làm startup không rảnh rỗi thế đâu. Với công ty startup, sản phẩm – dịch vụ là điều quan trọng hơn mọi thứ khác, thời gian đầu nhà sáng lập phải là người quản lý sản phẩm (Product Manager) cho cả công ty.

Một điểm nữa là ít người nghĩ đến việc đưa sản phẩm ra ngoài biên giới Việt. Ít nhất phải nghĩ xem sản phẩm của mình có thể phục vụ được thị trường Đông Nam Á hay không, nếu được thì phải có chiến lược đưa sản phẩm vào các thị trường này ngay lập tức.

Điểm cộng của các nhà sáng lập Việt là rất chăm chỉ, nếu có sự hướng dẫn đúng đắn, cơ hội thành công sẽ cao.

MUỐN CÔNG TY PHÁT TRIỂN, NHÀ SÁNG LẬP KHÔNG ĐƯỢC GIẤU DỐT VÀ PHẢI LUÔN COI VIỆC TÌM NHỮNG NGƯỜI GIỎI NHẤT CHO CÔNG TY LÀ NHIỆM VỤ HÀNG ĐẦU.

Theo anh, thế nào là một startup thành công?

Đó không hẳn là kiếm được nhiều hay ít tiền, mà là tạo ra một sản phẩm quan trọng với xã hội. Những công ty như Google hay Facebook mà ngừng cung cấp dịch vụ, rõ ràng thế giới cũng bị ảnh hưởng nhiều, đúng không? Họ là những công ty quan trọng với thế giới. Chúng tôi muốn xây dựng một Got It như thế!

Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này.

Quốc Khánh

BLOCKCHAIN – DECENTRALIZED


Bài của tác giả Ngọc Lê

Sau một số bài về crypto được các anh chị đăng trong group, mình nhận thấy có một số anh em muốn hiểu rõ code của blockchain, của bitcoin, điều này có hơi vô lý vì group 40 ngàn thành viên trên 80%-95% xuất thân là dân business chứ không phải dân technical. Nó giống việc các anh em nhờ cty thiết kế web làm cho cái website kinh doanh nhưng lại đòi có người giảng giải cho code PHP, database MySQL, Javascript…

Tuy nhiên để thõa lòng mong muốn cũng như tránh cái nhìn thiên lệch về một nền tảng công nghệ được gọi là The Next Generation, mình mạng phép viết một chút kiến thức về blockchain mà mình đã học được trong thời gian qua ở mức cơm bình dân cho dễ hiểu với tất cả mọi người. Đây là nền tảng khó chứ không hề đơn giản, mình cũng chỉ mới nắm được phần vỏ nên không tránh được sai sót, tuy nhiên mình sẽ để lại những keyword để anh chị em muốn tìm hiểu sâu hơn, chính xác hơn bằng Google.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

Khái niệm chain of block ra đời từ năm 1991, nhưng vào thời điểm đó triển khai mô hình này là bất khả thi vì như ngay tại nước Mỹ, số lượng PC vào thời điểm đó rất là ít ỏi. Chủ yếu chỉ có các công ty.

Vào khoảng cuối năm 2008 khi mà anh chị em chúng ta đều biết là có cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, anh em làm trong ngành phần mềm outsourcing chắc hiểu rõ hậu quả nhất, ảnh hưởng của nó đến tận bàn làm việc của từng người. Nhân vật bí ẩn Satoshi Nakamoto tung lên mạng một bài mô tả về blockchain và đầu năm 2009 cho ra đời ứng dụng đầu tiên của nó – Bitcoin, nhằm chứng minh rằng blockchain có thể làm được việc gì.

Vì lúc này, nhà nhà có PC, người người có laptop. Là thời điểm tốt để triển khai mô hình Decentralized.

CENTRALIZED LÀ GÌ?

Trước khi hiểu Decentralized là gì, chúng ta cần điểm sơ qua về Centralized, mô hình mà chúng ta đã và đang sống với nó.

Centralized đúng như ý nghĩa của nó là quyền lực tập trung vào một nơi. Dạng client-server. Ví như Google và FB dù có phân tán server khắp thế giới (Distributed), lưu trữ trên Cloud (điện toán đám mây) thì một khi 2 cty này hủy bỏ một dịch vụ hay giải tán cty thì coi như mất hết mọi thứ của người dùng.

Nếu chúng ta đem 10 tỷ nộp vào một ngân hàng và sau đó dùng internet banking để xem thì chúng ta thấy con số 10 tỷ trong tài khoản. Nên nhớ đây chỉ là con số do ngân hàng cấp, nắm tiền trong tay lúc này là ngân hàng, không phải chúng ta.

Khi chúng ta chuyển 10 tỷ đó cho một tài khoản khác, chỉ đơn giản là ngân hàng dời con số này qua cho tài khoản nhận (nếu cùng ngân hàng), hoặc dời tiền qua ngân hàng khác (nhưng người nhận cũng chỉ là nhận con số).

Chuyện sẽ không có vấn đề gì nếu ngân hàng làm ăn tốt, nhưng nếu giả sử ngân hàng bị phá sản thì số 10 tỷ đó sẽ mất (cùng lắm chúng ta nhận lại được 75 triệu hoặc không có gì cả – đâu ai biết thật sự có đền bù được hay không). Hoặc hacker tấn công vào toàn bộ server của ngân hàng (như việc sân bay TSN đã bị hacker tấn công làm tê liệt hệ thống vào năm 2017).

DECENTRALIZED LÀ GÌ?

Decentralized ngược lại với các vấn đề trên của Centralized, sử dụng mạng ngang hàng (P2P), quyền lực lúc này dân chủ, những người tham gia trong node có quyền lực như nhau (mining/miner/validator), được chia sẻ phần thưởng theo lý thuyết trò chơi (Game of Theory), hành sử theo một tập luật được quy định sẵn (fixed set of rules), đồng thuận (consensus).

Giả sử có một loại coin A nào đó được nắm giữ và giao dịch bởi 500.000 người, trong đó có 100.000 máy đào rãi rác khắp toàn cầu thì lúc này mỗi người có một ví chứa A (A wallet) riêng, đi cùng với 1 private key và địa chỉ ví (wallet address). Tự mình quản lý và bảo mật, như nắm tiền mặt trong túi, chuyện làm mất là do lỗi cá nhân.

Khi muốn chuyển tiền cho người khác thì chỉ việc và ví cá nhân, nhập địa chỉ ví của người nhận vào (received wallet address) và send đi. Lúc này người chuyển và người nhận có thể dễ dàng nhìn vào transaction id (TxId) là biết số coin mình đã được chuyển hay chưa, đã qua các bước confirm hay chưa. Lúc này hệ thống máy đào sẽ chịu trách nhiệm việc confirm các giao dịch bằng thuật toán blockchain.

Quá trình này do hệ thống mining làm hoàn toàn tự động, không ai có thể can thiệp vào, kể cả trong trường hợp tại thời điểm nào đó 100.000 máy chỉ còn đúng 2 máy online làm việc thì giao dịch vẫn hoàn thành. Đương nhiên việc này càng khó xảy ra vì 100.000 máy đào rãi rác khắp toàn cầu, không ai chịu sự quản lý của ai, không có lý do nào cùng lúc tắt máy hoặc bị hack cùng một lúc.

Tính bảo mật cũng chính là điểm này, giả sử blockchain A tạo ra coin A bị hacker tấn công vào 1 máy nào đó và sửa đổi (việc này làm được nhưng cực khó và tốn nhiều chi phí về điện), ngay lập tức toàn bộ hệ thống 99.999 máy còn lại nhận ra sai, bằng chứng sự giả mạo (tamper-proof) và lập tức bác bỏ sửa đổi này. Đồng bộ hóa lại dữ liệu. Công trình hack xem như đổ sông đổ biển. Trừ khi hacker có thể tấn công 51% hệ thống máy đào cũng 1 lúc, cùng 1 thời điểm. Trong ví dụ coin A này, hacker phải sửa đổi cùng lúc trên 51.000 máy đào rải rác khắp thế giới (trừ khi 51.000 máy này tập trung vào 1 chổ, chuyện này chỉ xảy ra đối với mô hình Centralized như đề cập bên trên). Lý do blockchain không bị hack là bởi đặc tính này.

Như vậy có thể thấy nắm giữ và giao dịch crypto currency không khác gì tiền mặt trao tay. Hoàn toàn loại bỏ hệ thống ngân hàng ra khỏi cuộc chơi. Chỉ có 2 người trong cuộc gửi và nhận mới biết địa chỉ ví đó là của ai, người ngoài có thể truy xuất giao dịch nhưng không biết ai là ai. Như ví dụ TxId sau đây:

From: a0dc65ffca799873cbea0ac274015b9526505daaaed385155425f7337704883e

To: cbae093a5d04ee638b4b5735259a5ecc4021cee210ee842eaa6e79755cf1cf12

Bất kỳ ai cũng có thể xem được giao dịch này, truy xuất được các giao dịch trước đây của 2 địa chỉ ví này (minh bạch) nhưng không hề biết ví này thuộc về ai (ẩn danh).

Tiền nằm trong ví của bạn thì bạn có thể truy suất được từ bất kỳ đâu trên thế giới, nếu bạn dùng ví online/offline và biết cách tạo và nắm giữ private key thì dù cho dịch vụ ví bạn đang dùng nó có sập (hoặc thiết bị của bạn bị mất, hư) thì tiền bạn cũng không mất. Bạn sử dụng một dịch vụ khác/mua thiết bị khác và dùng private key đi thẳng vào tài khoản của bạn. Tiền nằm trong hệ thống blockchain network, nó không mất đi, chỉ là rất nhiều người bị mất private key nên mãi mãi không truy suất được nữa.

BLOCKCHAIN LÀ GÌ?

Không khó để Google là thấy định nghĩa blockchain là cuốn sổ cái điện tử (ledger). Ở phương diện này mình không giải thích vì đã có nhiều nguồn. Mà sẽ nói vấn đề sâu hơn tí về nền tảng công nghệ của nó.

Blockchain là sự kết hợp 3 nền tảng có sẵn từ lâu:

01. Ngành mật mã học (Cryptography).

Đây là ngành có từ thời cổ đại cho đến tận thời hiện đại, khi con người cần mã hóa những thông tin để truyền đi mà không bị bên thứ ba bắt được và đọc được. Nếu bạn nào còn tò mò muốn biết thì tìm hiểu mã hóa đối xứng (Symmetric), mã hóa bất đối xứng (Asymmetric) và hàm băm (Hash function), số nonce và extra nonce.

Các blockchain hiện nay sử dụng thuật toán mã hóa SHA256 (thuật toán này do NSA – cơ quan an ninh nội địa Mỹ – National Security Agency tạo ra).

Ví dụ toàn bộ bài viết trước của mình cho group tại đây có 2779 ký tự https://www.facebook.com/groups/QuanTrivaKhoiNghiep/permalink/2069753356577035 sau khi được mã hóa bằng SHA256 thì chỉ còn đoạn mã ngắn 6a1ff8769a4ce6d0096cacf870d14c1c87c3473139919d3cbf07ac80b1d02a84 chỉ với 64 ký tự.

Và chỉ cần một chút sửa đổi nhỏ là xóa dấu chấm dòng cuối cùng. Kết quả đoạn mã sẽ hoàn toàn khác biệt cedf33e4f98e52efade7a4b16bbaee257ef9946e7dfcd9c4b0868f6044146825 và đây chính là tamper-proof (bằng chứng về sự giả mạo).

Kể cả nội dung có lên đến hàng GB thì mã hóa vẫn chỉ còn 64 ký tự mà thôi. Đó là lý do vì sao mà mỗi node có 1 bản copy của Ledger của Bitcoin blockchain nhưng vẫn không lo bị tràn dung lượng sau 10 năm tồn tại.

02. Mạng ngang hàng thuần (Purely P2P network).

Ai chuyên download phim từ BitTorrentchắc hiểu P2P là gì.

Các node trong network vừa là client vừa là server và có một bản copy của Ledger (Shared Ledger).

03. Lý thuyết trò chơi (Game of Theory).

Đây là lĩnh vực tất cả mọi người nên tìm hiểu, vì nó ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực từ kinh doanh cho đến chính trị. Đã có vài cuốn được xuất bản trong nước.

Các node trong P2P network sẽ xác thực các giao dịch theo sự đồng thuận (consensus) và theo 1 trong 2 loại cơ chế khuyến khích kinh tế của lý tuyết trò chơi, PoW (proof-of-work) hoặc PoS (proof-of-stake). Làm đúng được thưởng, làm sai bị phạt.

BLOCKCHAIN LÀM ĐƯỢC GÌ?

Đừng lầm tưởng blockchain chỉ là tạo ra coin/token. Blockchain là công nghệ thay đổi thế giới. Vì sao?

01. Đăng ký quyền sở hữu

– Quản lý thẻ căn cước (National ID), Passport.

– Bằng cấp chứng chỉ.

– Quyền tác giả (sách, bài hát…)

– Chủ quyền bất động sản.

– Giấy đăng ký kết hôn.

– Chủ quyền loại tài sản nào đó (xe).

Ví dụ một trường đại học cấp bằng và dùng mã blockchain để quản lý thì không ai có thể giả mạo bằng cấp được nữa, chỉ cần show đoạn mã truy suất xem người đó có bằng cấp đó do trường đó cấp là được. Bất kỳ ai có đoạn mã đều có thể kiểm tra được thật giả.

02. Chuyển quyền sở hữu

– Hệ thống thanh toán (payment).

– Truy suất nguồn gốc nông sản (Provenance).

– Quản lý chuỗi cung ứng (supply chain).

03. Smart contract.

Với blockchain ethereum, smart contract ra đời và ràng buộc giữa 2 bên khi giao dịch với nhau (tùy theo được code như thế nào, có quy định rõ ràng trách nhiệm các bên hay không). Smart contract một khi được đưa lên blockchain network là không thể sửa đổi được nữa.

Ví dụ A mua xe từ B. B sẽ gởi mã chuyển chủ quyền xe cũng như mã kích hoạt xe, địa điểm để xe vào smart contract. A chuyển đúng số tiền thỏa thuận vào smart contract. Khi các node blockchain confirm giao dịch là đúng. Smart contract sẽ chuyển tiền vào ví cho B, A sẽ nhận được các thông tin chuyển quyền sở hữu xe, mã kích hoạt xe, địa điểm lấy xe. Lúc nãy blockchain đã ghi nhận A là chủ mới của chiếc xe.

Toàn bộ giao dịch hoàn toàn không cần đến bên môi giới bán xe làm trung gian, cơ quan làm công chứng giấy tờ xe, ngân hàng… Nếu giao dịch không đúng, sẽ không confirm và smart contract nhả lại tiền về A, xe về B.

Như vậy đối với những ngành xuất nhập khẩu, smart contract hoàn toàn loại bỏ quy trình mở L/C và tuyệt đối an toàn. Người xuất không cần lo người nhập quịt tiền, người nhập cũng không cần sợ tiền trao mà cháo không múc.

Ứng dụng vào mua bán online, khi người mua chuyển tiền vào smart contract, nếu giao dịch được hoàn thành thì tiền sẽ chuyển cho người bán, nếu không sẽ hủy giao dịch, chuyển lại cho người mua.

Đột phá kiểu anh Nam Funix


nam funix.jpg
Ảnh: Quốc Khánh
Giữa dàn diễn giả comple và cravat có mặt tại buổi hội nghị mang tên Tư Duy Đột Phá trong kinh doanh của tạp chí Nhịp Cầu Đầu Tư, có lẽ anh Nguyễn Thành Nam, đồng sáng lập FPT & Đại học Funix là người gây “đột phá“ nhất về mặt hình thức: đầu trọc, áo sơ mi sắn tay, chân mang sandal cao su. Và không chỉ có thế.

Anh bộc bạch mình thật sự chẳng phải dân làm kinh doanh. Thế mà có ngày lên diễn thuyết trong một hội nghị đầu tư uy tín thế này đã là một đột phá của bản thân rồi. So với anh Trương Gia Bình, Chủ tịch FPT thì cái tên Nguyễn Thành Nam có vẻ ít thu hút truyền thông hơn. Nhưng không vì thế mà có thể kết luận anh là người nói chuyện thiếu sức hút. Trong các phần trình bày của diễn giả sáng nay, anh là người duy nhất thật sự kể một câu chuyện.

Anh Nam thốt ra một câu nửa đùa nửa thật, đột phá đôi khi đồng nghĩa với đi lạc đường đấy! Ảnh phàn nàn về lời giới thiệu trong đoạn clip, bảo Đại học Funix là đại học trực tuyến đầu tiên và duy nhất tại Vn. Sợ cái chữ duy nhất. Đó không phải là cách làm truyền thông hay ho đâu. Duy nhất thì có khi là đang đi lạc đấy. Một mình một lối, xung quanh không có ai thì cũng đừng mừng vội.

Người Việt Nam mình hay dị ứng với các chữ đại loại như lầm đường hay lạc lối. Trong 10 năm đầu FPT cũng lạc đường đấy thôi. Khi mới từ Nga về, cùng anh Bình sáng lập ra FPT, anh Nam đặt mục tiêu FPT sẽ trở thành Microsoft. Thật ra thì khi có mục tiêu rồi người ta mới dễ lạc lối. Bởi thấy mục tiêu đó mà không biết cách làm thế nào để đi tới đó. Cứ đi lạc hoài. Không có mục tiêu thì mới là khó bị lạc đường. Ngẫm lại cũng đúng nhỉ?

Bởi làm phần mềm, công nghệ thông tin thì chỉ có Mỹ là số 1, thế là FPT lấy Microsoft làm mục tiêu là chuẩn rồi. Nhưng lạc lối mãi mà không đến được mục tiêu, đành phải chuyển hướng từ trời Tây về phương Đông. Đó là khi FPT đến Bangalore, Ấn Độ. Khi đó là năm 1998, còn nghèo nàn lạc hậu lắm. Ấy thế mà gần gũi với Việt Nam, anh Nam tấm tắc.
Thế là đã tìm ra chân lý. Một mục tiêu mới gần gũi hơn, và trong tầm tay hơn. Anh nhắc đi nhắc lại một ý, lạc đường là chuyện bình thường. Nhưng quan trọng khi lạc thì bạn biết phải hỏi ai. Ảnh bảo anh gặp ông gì sáng lập Infosys, nói với ảnh một câu mà anh nhớ hoài cho tới hôm nay. Đại loại là “Chúng tôi chả phải là công ty công nghệ, mà chúng tôi là công ty quản lý những con người làm công nghệ“. Ngẫm lại mới thấm, công nghệ có là gì khi mà không thể quản những con người làm công nghệ?

Lạc lối chả có gì đáng sợ nếu chúng ta có được những người chỉ đường để hỏi bất cứ lúc nào. Đó cũng là tinh thần của đại học Funix, với mô hình đội ngũ Mentor lên đến gần 2,000 người, sẵn sàng giải đáp bất cứ thắc mắc gì của sinh viên. Nếu không biết thì cứ trả lời không biết để sinh viên nó hỏi tiếp người khác. Đang đi lạc sợ nhất hỏi phải thằng ko biết gì mà cứ chém gió luyên thuyên mất thời gian. Anh nhận ra mấy mô hình đại học kiểu campus đẹp lộng lẫy, khuôn viên hoành tráng thì cũng chả thu hút mấy sinh viên tại Việt Nam. Họ chỉ cần lên mạng, học được kiến thức hay ho là đủ.

Cũng như lần trước với FPT, anh Nam là du hí trời Âu để tham khảo xem thế giới người ta có đang làm gì tương tự không, sợ mình lại bị khác biệt kiểu lạc lối. Ecole 42, một coding school của Pháp có chi nhánh tại Sillicon Valley là một mô hình quái lạ khiến anh thích thú. Không giáo viên, không giáo án, cả trường hình như có tầm 10 nhân viên gì đó, đã bao gồm 5 lao công quét dọn…Sinh viên chấm điểm lẫn nhau thì phải. Nói chung tất tần tật qua internet. Làm bài giảng đầu vào qua online test, học theo bài tập project…Thế mà ra trường thì các công ty công nghệ ráo riết săn sinh viên. Funix chắc chắn ko phải kiểu Ecole 42, nhưng giống cái tinh thần tự học.

Tự học là cách học hiệu quả nhất. Làm sao để khuyến khích sinh viên học cách tự học. Muốn tự học tốt thì phải biết cách đặt câu hỏi. Cái này Việt Nam mình còn thiếu lắm. Mình đi học chỉ để tìm câu trả lời, chứ có ai dạy mình cách đặt câu hỏi đâu. Nên ngại hỏi lắm, hỏi ra sợ lộ cái ngu. Và thế mà cứ mãi ngu. Mô hình sử dụng mentor của Funix là giúp cho các em thoải mái đặt câu hỏi. Hiện tại hình như số lượng mentor còn đông hơn cả sinh viên! Cái này do tôi làm kinh doanh kém! – anh Nam bộc bạch.

Dù thế nào, tôi tin anh Nam đã mang lại một sự đột phá cho Funix, đó là tạo ra một mô hình học trực tuyến với mạng lưới những người chỉ đường tâm huyết. Sinh viên mà, ai chả có lúc đi lạc!

Vài dòng ghi chép từ Hội nghị Đầu Tư của Tạp Chí Nhịp Cầu Đầu Tư 21/11/2017

Quốc Khánh

DẤN THÂN ĐI TÌM “ĐẠI DƯƠNG XANH CHO SẢN PHẨM MỚI”


blue ocean.jpeg

Bài của tác giả Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Le Group of Companies, Đồng sáng lập Elite PR School

(Đăng trên cuốn GAM7, Book 8, Launching, tháng 1/2018. Rio Vietnam)

Ngay cả trước khi được cầm trên tay cuốn Blue Ocean Strategy của Chan Kim và Renée Mauborgne, bản năng của mỗi doanh nhân là luôn tìm các giải pháp ít cạnh tranh, bằng cách sản xuất và cung ứng những sản phẩm, dịch vụ chưa có trên thị trường. Một doanh nhân trẻ mới kể với tôi về con đường anh ấy đưa máy karaoke màn hình cảm ứng xâm nhập thị trường Thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm trước, khi mà đầu karaoke chọn số vẫn là vua. Bầm dập nhiều tháng trời, để rồi cái dàn máy chơi nhạc hào nhoáng ấy đã trụ vững và dần dần chi phối thị trường giải trí hấp dẫn này.

Năm 1999, đất nước mới chập chững vượt qua 10 năm mở cửa, đời sống người dân mới ở mức thoát nghèo, nhưng tôi đã lập kế hoạch, tìm đối tác và mở ra cuốn tạp chí thời trang và phong cách sống sang trọng đầu tiên ở Việt Nam – tạp chí Đẹp. Lúc đó, tôi chỉ có một niềm tin rằng, tầng lớp trung lưu rồi sẽ phát triển, nhu cầu cho các thương hiệu thời trang và mỹ phẩm cao cấp sẽ lớn hơn nhiều so với doanh số mà Louis Vuitton – cửa hàng xa xỉ duy nhất ngày đó mang lại. Thực tế hôm nay đã minh chứng rằng ngành tiêu dùng xa xỉ Việt Nam đang tăng trưởng khá tốt, bất chấp những xáo trộn kinh tế trong một thập niên qua, hầu hết các thương hiệu thời trang đẳng cấp thế giới đều đã có mặt, chưa kể sự lớn mạnh rất nhanh của các thương hiệu thời trang nội địa.

Cơ hội và thách thức của những người tiên phong

Cái giá của sự tiên phong đối với anh bạn doanh nhân trẻ của tôi là nhiều tỷ đồng đổ vào cửa hàng karaoke phong cách nhất Saigon và 6 tháng xoay chuyển chiến lược marketing thu hút khách hàng. Còn cái giá của tôi là hơn 3 năm lỗ triền miên, với nhọc nhằn bươn chải bằng đủ loại dịch vụ bên lề để nuôi sống tờ tạp chí và nhẫn nại educate (giáo dục) thị trường.

Người tiên phong cũng đồng thời là người mở đường. Bởi trước anh ta, chưa từng tồn tại con đường mòn dẫn lối thành công. Không ai đoán định được khả năng thành bại phía trước, chỉ có niềm tin và những toan tính chi ly là kim chỉ nam. Bản thân tôi cũng đã từng thiếu niềm tin ở iPhone, khi Steve Jobs giới thiệu chiếc điện thoại thông minh đầu tiên, khi mà những người như tôi đang tạm hài lòng với chiếc máy tính cá nhân không quá nặng, một chiếc điện thoại di động đủ nhỏ xinh, và một chiếc iPod nghe nhạc hàng ngày. Đưa ra một sản phẩm tiên phong là phá bỏ thói quen tiêu dùng cũ, là tiên liệu một nhu cầu mới, thậm chí kích thích khởi tạo ra nhu cầu đó.

Cái khó nhất của người tiên phong là phá vỡ những thói quen cố hữu, tư duy xáo mòn và sự yên ấm của vùng an toàn mà người tiêu dùng đã xây dựng xung quanh họ, vững chãi như thành trì. Tôi đã từng gặp những cái lắc đầu khi nhiều người cầm trên tay cuốn tạp chí Đẹp đầu tiên, bởi vì với họ, thời trang, lại là thời trang cao cấp, là thứ vô cùng xa lạ khi mà một căn hộ hay một cái xe Honda Dream vẫn là nỗi khát khao thường trực của xã hội. Tôi đoan chắc rằng, những người đầu tiên mở nhà hàng KFC, Pepperonis, hay nhập khẩu nước khoáng Evian về Việt Nam cũng gặp những khó khăn tương tự.

Dĩ nhiên, người đi đầu, nếu khai phá được vùng đất mới, sẽ luôn là chủ nhân đầu tiên của nó. Nếu như – tất nhiên tôi nhấn mạnh vào chữ “nếu” – người tiên phong như Steven Sasson không bị ông chủ Kodak giết chết cơ hội dẫn đầu; Băng vệ sinh Bạch Tuyết vô đối từ thập niên 1960 không bị cuốn vào cuộc chơi công nghệ sản xuất của các đối thủ mới nổi như Kotex, Diana để rồi trở thành kẻ thụ động trong cuộc chiến trên đại dương bắt đầu nhuộm đỏ.

Khởi tạo từ nhu cầu thị trường hoặc tạo ra nhu cầu mới

Một lời khuyên khá quan trọng của Chan Kim trong cuốn Chiến lược Đại Dương Xanh, là hãy khởi tạo ý tưởng sản phẩm mới từ nhu cầu của khách hàng. Nhưng đó không phải là nhu cầu trước mắt, mà là nhu cầu trong tương lai, nhu cầu mà ngay lúc này đây, bản thân khách hàng còn chưa hình dung ra nó. Trước khi Cirque de Soleil ra đời, xiếc đối với công chúng vẫn chỉ là những pha mạo hiểm trong vòm nhà bạt. Trước khi iPhone ra đời, điện thoại di động chỉ dùng để nghe gọi và nhắn tin. Trước thời Đẹp Fashion Show thì trình diễn thời trang chỉ là một phần khiêm tốn trong một chương trình tạp kỹ. Tác giả Chiến lược Đại Dương Xanh gọi đó là quá trình cạnh tranh mà không có cạnh tranh.

Mỗi sản phẩm tiên phong ra đời đều không phải là một sáng tạo đột biến như kiểu chúa trời nặn ra Adam và Eva, mà là kết quả của một quá trình nghiên cứu cải tiến sản phẩm hiện hữu, dựa trên những tiên đoán hoặc định hương nhu cầu trải nghiệm khác đi. Đó có thể là một phần hoặc toàn bộ quá trình gồm 4 hành động khởi tạo theo chiến lược đại dương xanh: Loại bỏ những nhân tố đã bão hoà; Hạ thấp các nhân tố dưới chuẩn ngành nghề không thực sự còn hấp dẫn; Nâng cao tiêu chuẩn các nhân tố có khả năng trở thành hấp dẫn; Sáng tạo ra những nhân tố mới, chưa bao giờ tồn tại.

À Ố Show là một ví dụ thú vị cho sự hình thành một sản phẩm tiên phong ở thị trường Việt Nam. Nó triệt tiêu vai trò ngôi sao cá nhân, loại bỏ các pha trình diễn nghệ thuật xiếc mạo hiểm truyền thống mà bạn có thể thấy ở bất cứ gánh xiếc nào. Nó giảm bớt các yếu tố hài hước. Nó đẩy mạnh hơn các yếu tố vũ đạo và đặc tính dân gian. Nó sáng tạo ra một loại hình nghệ thuật trình diễn mới kết hợp âm nhạc, vũ đạo và nhào lộn.

Nhiệm vụ của người làm marketing cho các sản phẩm tiên phong là làm cho thị trường quen dần với một loại nhu cầu trải nghiệm mới mà chính họ sáng tạo ra. Chúng ta gọi đó là quá trình educate – giáo huấn thị trường. Thường thì quá trình đó bắt đầu bằng việc kích thích tò mò để tạo ra nhận thức mới (Awareness), tạo ra sự tương hỗ với khách hàng tiềm năng thông qua thử nghiệm sản phẩm hoặc tranh luận về nó (Engagement), nỗ lực tương tác với những người mua hàng ban đầu (Purchase), biến họ thành những khách hàng trung thành (Loyalty) rồi tiến tới ủng hộ, vận động cho trải nghiệm mới (Advocacy).

Apple là tay chơi điển hình cho trường phái marketing theo công thức AEPLA kể trên. Mỗi đợt phiên bản iPhone mới được tung ra là kèm theo những tin tức dự đoán, rò rỉ, rồi đủ mọi chuyên gia tham gia bình luận, thử nghiệm, thậm chí thi nhau phá nát, để rồi một bộ phận không nhỏ nhẫn nại xếp hàng trong gió rét để được làm những người đầu tiên sở hữu nó. Chưa hết, họ trở thành các tín đồ của iPhone, tự nguyện giới thiệu, vận động bạn bè, gia đình tham gia vào cộng đồng những người sử dụng iPhone.

Chiến lược phát triển bền vững và nhu cầu tồn tại trước mắt

Có lẽ thách thức muôn thuở của các doanh nghiệp tung ra sản phẩm tiên phong vẫn là bài toán tìm kiếm doanh thu ngay để tồn tại trong khi chờ đợi triển khai một chiến lược dài hạn xây dựng và phát triển thương hiệu. Một bệnh viện mới hình thành ở Long Biên, Hà Nội đã từng đặt một câu hỏi như thế cho cả cộng đồng marcom đi tìm lời giải. Tôi nghĩ, đó là vấn đề chính đáng của hầu hết các doanh nghiệp và sản phẩm mới ra đời. Tưởng chừng như đây là hai yêu cầu trái ngược nhau, nhưng bản chất nó lại là hai quá trình có sự tương hỗ, gắn bó mật thiết.

Vấn đề của các nhà truyền thông marketing là phải xây dựng được chiến lược thương hiệu gắn với marketing sản phẩm. Thương hiệu cần có một nền tảng ý tưởng trung tâm nhất quán, một mục tiêu và lộ trình rõ ràng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động xây dựng các giá trị cho sản phẩm, các hoạt động tiếp thị phù hợp với đối tượng mục tiêu, và trên hết là cung cấp được một chuỗi các cơ hội trải nghiệm, tương tác với sản phẩm. Chiếc Vespa từng đã rất xuất sắc tạo ra một đại dương xanh mới khi gắn với sự quyến rũ của phong cách lịch lãm đầy tính nghệ thuật và đã thành công trong chuyển đổi nhận thức của một bộ phận rất lớn người tiêu dùng từ việc sở hữu một phương tiện giao thông thành sở hữu một biểu tượng phong cách sống. Tiếc rằng, nó đang đi vào vết chân của những thương hiệu cạnh tranh và và có nguy cơ đánh mất uy lực riêng có. Quá trình cải tiến chất lượng vượt bậc của Vespa và các sản phẩm Piaggio khác lẽ ra chỉ là những giá trị cộng thêm cho một định vị không có đối thủ.

Thường thì các nhà đầu tư sẽ sốt ruột nếu chúng ta quá chú trọng vào phát triển thương hiệu dài hạn, nhưng cũng có các nhà đầu tư đủ kiên nhẫn chờ đợi thị trường bùng nổ sau một quá trình đào tạo đau thương. Vấn đề là chúng ta phải cân đối hài hoà hai con đường này. À Ố Show, trong khi xây dựng một kế hoạch truyền thông thương hiệu bài bản thì vẫn kiên trì giới thiệu chương trình cho các công ty lữ hành và khách sạn ở Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn có những suất diễn dành riêng cho những người có tầm ảnh hưởng, và sẵn sàng tung ra các gói giải pháp linh hoạt cho các đối tượng tiềm năng.

Đổi mới để đại dương luôn xanh

Bí quyết để tồn tại và giữ vững vị thế dẫn đầu là luôn luôn đổi mới và cải tiến. Thuận lợi của người đi đầu là khả năng áp đặt cuộc chơi, tự thiết lập những quy chuẩn của cuộc đua nâng cao chất lượng sản phẩm và trải nghiệm khách hàng. Năm 1955, Walt Disney ra mắt Disneyland đầu tiên và nó trở thành một trong những công viên chủ đề hấp dẫn nhất mọi thời đại. Disneyland không ngừng được mở rộng và phát triển ở nhiều nơi trên thế giới và ngày nay là trung tâm giải trí không thể thiếu đối với nhiều thế hệ.

Khi những tạp chí nhượng quyền quốc tế bắt đầu vào Việt Nam, nhiều người đã không khỏi lo ngại cho con đường phát triển của Đẹp. Nhưng rõ ràng là, tạp chí Đẹp mới là người áp đặt cuộc chơi, khi liên tục đưa ra những sản phẩm mới, như đặc san mùa cưới, trình diễn thời trang đỉnh cao, số hoá với các phiên bản di động khác nhau, và đặc biệt xây dựng được một hệ sinh thái đa nền tảng, mà trung tâm là sức mạnh của nội dung chất lượng cao.

Người đi trước luôn có cả hai hướng tiếp cận: nhìn lên phía trước và quan sát phía sau. Tiếp tục nhìn lên, tìm đường để bơi ra đại dương xanh hơn sẽ khó hơn nhiều so với nỗ lực vượt trên đối thủ gần nhất. Khi đối thủ của tôi bắt đầu chụp được những bộ thời trang đẹp thì các shoot hình của tạp chí Đẹp đã biết kể chuyện. Khi đối thủ bắt kịp những câu chuyện về cuộc sống của người nổi tiếng thì tạp chí Đẹp đã đi theo con đường sáng tạo ra những chủ đề nhân văn, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, và cho đến giờ, đó vẫn là lãnh địa khó vượt qua đối với các tạp chí giải trí cao cấp khác.

Nhưng đây là câu chuyện không hề đơn giản. Sẽ có nhiều ý nghĩa hơn nếu sản phẩm của bạn thuộc lĩnh vực có hàm lượng sáng tạo cao, nhưng đối với các sản phẩm tiêu dùng nhanh thì đổi mới không nhất thiết phải nằm ở chính sản phẩm đơn thuần, mà có thể là một phương thức marketing mới, một lối đi mới. Bánh trung thu Kinh Đô lâu nay vẫn là anh lớn trên thị trường, nhưng luôn đứng trước nguy cơ bám đuổi quyết liệt của các thương hiệu nhỏ hơn. Thách thức này buộc Kinh Đô phải marketing theo một hướng mới, trái ngược ngay cả với concept mà chính nó đã tạo ra là thị trường tặng quà. Hai năm nay, Kinh Đô đã “bán” ý tưởng trả lại ý nghĩa Trung thu đích thực cho trẻ em, gắn với sự đoàn tụ đầm ấm gia đình.

Tấn công vào một thị trường mới tinh, bằng sản phẩm tiên phong là chiến lược hấp dẫn quyến rũ, vừa kích thích bởi tính mạo hiểm cao, nhưng cũng hứa hẹn trái ngọt lành nếu con đường đi là đúng. Thực tế cho thấy, không phải sự lựa chọn mới nào cũng mang đến đại dương xanh. Nhiều thương hiệu đã đổ vỡ do lựa chọn sai, hoặc tư duy cứng nhắc và thiển cận của hệ thống không chịu thay đổi, hoặc tư duy quá khác biệt làm người ta sợ hãi, hoặc chính bản thân nhà đầu tư mất niềm tin và thiếu kiên nhẫn.

Nhưng, lịch sử thuộc về những người mở đường, đi trước.

 

Lưu ý khi chơi crypto!


pexels-photo-730569.jpeg

Bài của Ngoc Le, đăng trên group Quản trị & Khởi nghiệp

Sắp tới sẽ có nhiều anh chị em group tham gia vào thị trường crypto, vì vậy trước khi tham gia mong mọi người hãy tìm hiểu thật kỹ những quy trình dưới đây (Google để tìm hiểu sâu và chi tiết cho từng phần), sau khi nắm thật rõ hãy bắt đầu từ con số nhỏ 100$-500$ để làm cho quen tay để tránh bị mất tiền từ những lỗi kỹ thuật.

Cảnh báo đây là cuộc chơi có yếu tố công nghệ vì vậy rất nhiêu người đã bị mất tiền do lỗi làm sai kỹ thuật. Đây là cuộc chơi mà chuyên gia tài chính chưa chắc đã là người chiến thắng, còn người ngoại đạo chưa chắc đã thua.

Và hãy nhớ, Google chính là người thầy, phải tìm đọc tài liệu từ tiếng Việt lẫn tiếng Anh (ưu tiên tiếng Anh càng nhiều càng tốt).

TÓM TẮT QUY TRÌNH ĐẦU TƯ CRYPTO CƠ BẢN:

01. Mua BTC, ETH từ các sàn mua, bán trực tiếp từ VND, USD, EUR… nói chung là nước nào cũng sẽ có sàn của nước đó như VN có Remitano, Mỹ có CoinBase…

02. Chuyển BTC, ETH qua các sàn trade như Poloniex, Bittrex (Mỹ, hiện nay rất khó verify tài khoản), Binance (TQ, dễ verify) và rất nhiều sàn khác, lên coinmarketcap xem.

03. Dùng BTC, ETH để mua các altcoins (trừ BTC ra thì tất cả được gọi là altcoins) trên sàn trade.

Tùy theo bạn muốn đầu cơ thì trade (short-term) theo sóng, chart; đầu tư thì hold (long-term) vài tháng, 6 tháng, 1 năm, vài năm.

Nếu là dạng hold thì mua xong nên chuyển về ví cá nhân, không nên để coin trên ví sàn, khi bán thì chuyển coin lên sàn trade để bán.

Muốn biết về ví thì nên Google tìm hiểu các loại ví (wallet) online, offline, ví hardware, ví giấy…

04. Sau khi chốt lời/cắt lỗ từ altcoins lại về BTC, ETH và muốn rút tiền về dùng thì chuyển BTC, ETH về lại sàn mua, bán trực tiếp ở bước 1, đổi ra VND, USD, EUR…

BẢO MẬT TÀI KHOẢN:

01. Email tốt nhất là tạo 1 cái mới, sạch, bật bảo mật 2 lớp.

02. Phải hiểu rõ mã 2FA và dùng Google Authenticator là gì, trước khi bật 2FA thì cần lưu lại QR code và đoạn mã đề phòng điện thoại mất hoặc bị hư.

03. Lưu ý khi đăng ký bất kỳ thứ gì cần kiểm tra nguồn link từ nhiều nơi uy tín để không bị hack phishing.

04. Máy tính phải sạch, phần mềm diệt virus, tốt nhất là nên dùng 1 laptop dành cho coin riêng, không truy cập lung tung để tránh bị dính virus hack mất ví, tài khoản.

05. Khi chuyển coin đi cần lưu ý kiểm tra xem đã copy/paste đủ ký tự địa chỉ ví (wallet address) hay chưa, kiểm tra chuỗi mã ví thật kỹ xem thông tin đã khớp hay chưa. Rất nhiều trường hợp mất tiền do lỗi này mà ra, thiếu ký tự, sai mã ví do virus chèn vào, chuyển coin này mà lấy ví coin khác. Chuyển xong cần truy cập xem transaction xuất hiện hay không, đúng mã ví from và to hay không (chuyển sai là mất).

06. Cần phải hiểu private key là gì, bảo mật thật kỹ private key, không để mất, không để người khác biết.

07. Khi token yêu cầu ví chuẩn ERC20 thì bạn cần đúng loại ví chuẩn đó, đừng làm khác rồi mất tiền.

Hạnh phúc


pexels-photo-768258

Năm mới người ta thường chúc nhau nhiều thứ. Nhưng chắc là chúc nhiều nhất hai chữ hạnh phúc. Đến ngay cả câu chúc cũng bắt đầu bằng chữ happy cơ mà. Mà hạnh phúc là gì? Cũng như thành công, nó trừu tượng lắm. Hạnh phúc đâu chỉ là vui. Vì vui nó chỉ là cảm giác nhất thời. Có khi người ta đang vui mà có thực sự hạnh phúc đâu. Có người chỉ cần nhiều tiền là hạnh phúc, có người chỉ cần làm điều mình thích là hạnh phúc. Có người chỉ cần có đôi là hạnh phúc, cũng có người một mình cũng thấy happy. Có người chỉ cần làm từ thiện là thấy hạnh phúc, cũng có người chắc thấy happy khi chửi người làm từ thiện nên cứ chửi hoài. Con người là thế. Muôn hình vạn trạng. Hạnh phúc của người này đôi khi là khổ đau của người kia.
Định nghĩa hạnh phúc thật khó. Nhưng có một điều hầu như chắc chắc, người nào không biết mình muốn gì hoặc muốn quá nhiều thứ sẽ khó có hạnh phúc. Khi có quá nhiều sự lựa chọn cũng sẽ khó có hạnh phúc. Con người luôn tham lam và không biết mình muốn gì. Hành trình tìm kiếm hạnh phúc là một hành trình nhiều vui buồn và buộc phải có sự hy sinh.
Trớ trêu thay, có người tôn sùng hai chữ hạnh phúc trừu tượng đến mức lấy nó làm cái cớ để xao nhãng những thứ quan trọng khác của cuộc sống. Vì đôi khi nghĩ hạnh phúc đơn giản chỉ là cảm thấy vui, nên vui thì làm, hết vui thì nghỉ. Khó chút thì bỏ cuộc vì hết vui rồi. Cần gì kỷ luật, miễn sao vui là được. Cần gì lo chuyện tiền bạc, miễn vui là được. Tôn sùng hai chữ hạnh phúc đôi khi khiến con người dễ thoả mãn. Mà cũng trớ trêu lắm, người ta thích hạnh phúc nhưng vẫn làm công việc mình không thật sự thích, ở với một người mình không thật sự yêu. Vì đa phần con người thường ngại rủi ro. Ngại tốn thời gian công sức. Thà có một sự “ổn định mà chưa thật sự happy lắm” còn hơn “bấp bênh trong hạnh phúc thật sự”. Cơ mà hạnh phúc nó vốn trừu tượng, và nó có thể tăng level tuỳ vào những trải nghiệm mà ta có được trong cuộc sống. Cho nên chúc nhau hạnh phúc thì là câu chúc rất là chung chung. Tui tin ai cũng đã có những điều khiến mình cảm thấy hạnh phúc. Chỉ muốn chúc cả nhà sẽ tìm thấy thêm nhiều level hạnh phúc khác nữa trong cuộc sống. Và để được như thế, xin chúc vài thứ bớt trừu tượng hơn một chút. Biết đâu có những thứ ấy làm nền tảng, bạn sẽ tìm thấy hạnh phúc thật sự cho riêng mình. Thay vì happy new year, chúc cả nhà Healthy New Year, Confident New Year, Richer New Year, More Traveling New Year, And More Reading New Year.
Và làm ơn, để một năm mới thật sự mới, Việt Nam đừng mở bài Happy New Year của ABBA nữa. Đó là một bài rất cũ và rất buồn, của một ban nhạc tan đàn xẻ nghé và breakup tùm lum. Khởi đầu một năm như vậy hèn chi cả năm xui hoài! 😂😂😂😎😎🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳