Ra đi…mang về…tái hòa nhập…và những lầm tưởng…

Lướt qua mục Views by country của blog thì khá bất ngờ khi thấy xuất hiện những nơi như Japan, Korea, Norway…và thậm chí South Africa!!! Dựa trên các comments tôi đoán views này chắc là của các bạn du học sinh. Bởi thế, tôi quyết định dành entry này cho các bạn, những người giống như tôi, may mắn có cơ hội được sinh sống và học tập trong môi trường nước ngoài, dù ở đâu chăng nữa, cũng có rất nhiều điều để học hỏi và dạy chúng ta nên người.

Số là trước đây tôi có tham gia một vài buổi họp mặt của tổ chức US Alumni – Hội Cựu Du học sinh Mỹ để chia sẻ một số kinh nghiệm về tái hòa nhập vào môi trường làm việc tại Việt Nam sau khi du học nước ngoài. Chữ “tái hòa nhập” nghe không hay cho lắm, nghe giống như mấy anh cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng nhưng quả thật chưa kiếm ra được từ khác tốt hơn để thay thế. Nôm na sau một thời gian sinh sống, học tập trong môi trường hoàn toàn khác, bạn cần chút điều chỉnh để hòa nhập với môi trường quê nhà một cách tốt nhất, cho bản thân và cho cả công việc.

Băn khoăn chung của tất cả những du học sinh là sau khi tốt nghiệp nước ngoài, quay trở về Việt nam làm việc thì sẽ gặp phải những thử thách gì, làm thế nào vận dụng hết những gì đã học để mang lại thành công?

Để có câu trả lời chính xác thật là khó bởi nó tùy thuộc vào hoàn cảnh, ý chí, năng lực của mỗi người. Tôi chỉ xin chia sẻ vài quan sát, đúc kết sau 3 năm “tái hòa nhập” vào môi trường Việt Nam, tiếp xúc với nhiều lãnh đạo doanh nghiệp, kết bạn với nhiều thành phần xã hội do đặc thù nghề nghiệp. Không dám chắc những điều này hoàn toàn đúng với tất cả và giúp bạn thành công, nhưng tôi tin nó sẽ giúp bạn hạn chế thất bại. Tôi cũng xin nhấn mạnh: những đúc kết này hoàn toàn áp dụng đối với mọi trường hợp, chứ không chỉ riêng những ai quay về từ môi trường nước ngoài.

lưu ý: chữ ‘bạn” trong tất cả những câu sau đây ám chỉ người đã từng học tập, sinh sống, làm việc ở nước ngoài.

1. Giao tiếp: kỹ năng ngoại ngữ và những lầm tưởng.

Aha. Theo lẽ thường tình, tất cả các bạn đều sẽ giao tiếp rất tốt ngoại ngữ sau một thời gian dài sống cùng người bản xứ (dù rằng không phải ai cũng vậy). Đây là lợi thế vô cùng to lớn khi xin việc tại Việt Nam. Điều này không có gì phải bàn cãi. Lương cũng sẽ cao hơn. Nhưng bạn sẽ thành công với công việc mới? Chưa chắc. Rất nhiều người tôi biết đã gặp khó khăn thật sự trong công viêc bởi một lý do nghe rất oái ăm “Mình không thể giao tiếp tốt bằng tiếng Việt!. Rất nhiều bạn ở nước ngoài một thời gian dài, chỉ giao tiếp bằng ngoại ngữ, ít giao du với người Việt nam thì việc không thể trình bày, thể hiện lưu loát bằng tiếng việt là điều dễ hiểu. Nhiều bạn có trình độ ngoài ngữ siêu việt, làm cho công ty nước ngoài, báo cáo với sếp nước ngoài nên ít chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng tiếng việt. Xin hãy nhớ, bạn sẽ làm việc tại Việt Nam, đồng nghiệp của bạn, cấp dưới của bạn sẽ luôn có người Việt Nam; sản phẩm dịch vụ của công ty bạn sẽ phục vụ đa số người Việt nam…Bạn không thể chỉ giỏi giao tiếp bằng ngoại ngữ!!!! Một người bạn của tôi hoàn toàn gây ấn tượng mạnh với sếp ngoại khi giao tiếp tiếng ANh như người bản xứ cho đến khi buộc phải thuyết trình một bài powerpoint bằng tiếng Việt cho khách hàng. Chính bạn ấy cũng không ngờ mình lại gặp khó khăn nhiều như vậy. Nếu không rèn luyện, bạn sẽ rất khó diễn đạt lưu loát, dễ hiểu bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Đó là thử thách đối với chính những sinh viên tốt nghiệp ở Việt Nam, huống chi là với những ai đã một thời gian dài không sử dụng tiếng Việt như bạn. Nếu bạn đã từng xin việc bên nước ngoài chắc sẽ còn nhớ, 100% yêu cầu đầu tiên đối với ứng viên là Communication Skill. Đúng vậy, tất cả cuối cùng đều quay lại vấn đề giao tiếp. Mà khi quay về Việt Nam, nếu bạn chỉ giao tiếp tốt bằng ngoại ngữ thôi thì đúng là chỉ đáp ứng 50%. Tôi không phủ nhận vẫn có những bạn về đây làm một công việc mà sử dụng ngoại ngữ nhiều hơn tiếng Việt. Nhưng trường hợp đó rất ít. Cho nên tóm lại, nếu muốn tăng khả năng thành công, hãy chú trọng hơn nữa đến việc giao tiếp lưu loát bằng tiếng Việt bạn nhé. Nghe thật trớ trêu, bạn sẽ nghĩ “mình là người Việt mà lo gì”. Không đâu, đừng xem thường. Khi rơi vào hoàn cảnh bạn sẽ hiểu.

2. Mối quan hệ: Bạn đã tận dụng hết chưa?

Điều này tôi đã đề cập đâu đó trong các entry trước. Networking, networking, networking. Các bạn học ở Mỹ sẽ rất hiểu điều này bởi đây là điều mà các chuyên gia tư vấn nghề nghiệp bên đó rất hay nhấn mạnh. Tất cả chúng ta đều hiểu rõ mối quan hệ sẽ có lợi thế nào đối với sự nghiệp của mình. Tiếng bình dân gọi là “có quen biết”. Nhưng bạn đã thật sự tận dụng hết lợi thế quen biết của mình chưa? Rất nhiều bạn sau đi tốt nghiệp nước ngoài, dày dặn kinh nghiệm và bản lĩnh…nên thường có xu hướng “ta sẽ đứng trên đôi chân của mình”, “ta sẽ làm được” Điều đó rất đáng hoan nghênh. Nhưng nếu bạn có lợi thế mà không tận dụng thì  e rằng chưa thật sáng suốt lắm. Phần lớn du học sinh đều có gia đình khá giả, và rất nhiều trong số đó là chủ doanh nghiệp. Nhưng không phải ai cũng đã tận dụng hết lợi thế từ doanh nghiệp của chính gia đình mình. Nhiều bạn loay hoay mở doanh nghiệp, lập công ty…trong khi ít nghĩ đến việc nối nghiệp cha mẹ, đi theo ngành kinh doanh truyền thống của gia đình. Chưa kể những mối quan hệ làm ăn của chính bố mẹ cũng chưa được bạn chú trọng đúng mức. Tôi biết một bạn học rất giỏi, tốt nghiệp trường Top về kinh doanh của Mỹ, từng thực tâp ở nhiều tập đoàn lớn của thế giới nhưng khi về Việt Nam thì tham gia vào công ty gia đình. Dù quy mô nhỏ nhưng đó là cả cơ nghiệp của  gia đình, và cần một thế hệ kế nhiệm được đào tạo bài bản, có khả năng đưa công ty vươn lên tầm cao mới. Mới đầu gặp bạn ấy tôi nghĩ “Sao uổng thế? Cỡ bạn ấy dư sức vào tập đoàn tài chính quốc tế, lương vài ngàn đô, hơi đâu lại loay hoay với mảng phân phối sản phẩm điện của công ty gia đình? Nhưng ngẫm nghĩ lại, tôi tin chính công việc đó sẽ mang lại cho bạn ấy nhiều bài học hơn và sẽ giúp ích rất nhiều cho con đường sự nghiệp sau này. Nói tóm lại, bạn không nhất thiết phải nối nghiệp gia đình, nhưng hãy tận dụng triệt để hơn các mối quan hệ của bố, mẹ, cô chú bác, họ hàng…Đừng xem thường nhé, nhiều khi một người cô, người chú, người bác lâu ngày không gặp lại có thể quen một ai đó “vĩ đại”. Đừng vì tâm lý “tôi không muốn ỷ lại” mà đánh mất nhiều cơ hội tốt. Thế giới này không ai thành công một mình. Tất cả tài năng đều cần có một bệ phóng, một cơ hội để khẳng định mình. Đừng ngại sự giúp đỡ của người thân, họ hàng bạn nhé.

3. Lương bổng và cơ hội thăng tiến

E hèm. Một chủ đề rất thực tế, rất nhạy cảm, ảnh hưởng rất lớn đến quyết định làm việc tại Việt Nam của bạn.   Nói sao đây nhỉ. Ai chả thích lương cao. Nhưng bao nhiêu là đủ? 500, 700, 1000, 2000USD/1 tháng? Nhiều hay ít suy cho cùng vẫn là do nhận thức và cách tiêu xài của mỗi người. 500 USD mà xài ít thì vẫn thấy nhiều, 2000USD xài nhiều thì vẫn thấy ít. Đơn giản vậy thôi.  Một sự thật là, các bạn hãy biết chấp nhận lương khởi điểm sẽ rất thấp và không như kỳ vọng. Nhưng ngược lại, quy trình thăng tiến, cơ hội thì vô cùng. Do việc thiếu hụt nhân lực, các công ty sẵn sàng bổ nhiệm, cất nhắc các bạn rất nhanh nếu bạn chứng minh được năng lực thật sự. Một quy trình từ nhân viên mới vào đến vị trí Phó Giám Đốc ở nước ngoài có thể mất cả chục năm, nhưng ở VIệt Nam đôi khi mất vài tháng!! Hãy cân nhắc và chọn lựa nơi làm việc dựa trên tiềm năng phát triển tương lai, chứ đừng quá câu nệ mức lương khởi điểm bạn nhé. Tất nhiên là không thể thấp quá. Nhưng nếu cơ hội thăng tiến có thể bù trừ được thì tại sao không? Xin lỗi nói thật, với hoàn cảnh gia đình một số bạn du học sinh, bạn hoàn toàn có thể “cầm cự được” với mức lương thấp một thời gian để hướng đến một cơ hội lớn hơn. Nếu sống chung với gia đình thì không tốn tiền nhà, không tốn tiền parking, tiền credit card, không phải trả bill điện nước hàng tháng, tiền chợ, tiền giặt đồ…Bạn vẫn có thể chấp nhận mức lương thấp nếu đó là một công việc mà bạn tin rằng sẽ mang lại nhiều tương lai. Nói tóm lại, ý tôi ở đây là thay vì đau đầu quyết định xem làm chỗ này hay chỗ kia, lương bên nào tốt hơn, việc này tốt nhưng lương thấp quá…bạn hãy gạt bỏ chữ “Lương” ra khỏi đầu một chút và suy nghĩ nhiều hơn vào công việc mà bạn thật sư muốn làm, con đường sự nghiệp mà bạn thật sự hướng đến…Nếu đó là một công việc mà bạn tin rằng mọi thứ đều tuyệt vời chỉ trừ mức lương..Hãy thử nó xem sao. Biết đâu bạn sẽ thành công trong tương lai? Thay vì suy nghĩ kiếm việc nào lương cao, hãy suy nghĩ nhiều hơn vào công việc bạn thật sư muốn theo đuổi nhé. Hoàn cảnh của một người có điều kiện đi học nước ngoài sẽ cho phép bạn có thể “tạm thời” quên chuyện “cơm áo gạo tiền”, “mưu sinh” để tập trung vào những thứ lớn và vĩ đại hơn… Nghe có vẻ “lý tưởng hóa” và thiếu thực tế nhưng nếu bạn thực tế quá mà đánh mất đi những cơ hội “lý tưởng” thì cũng đáng tiếc…

4. Khởi nghiệp

Rất nhiều bạn khi quay về sẽ có ý định khởi nghiệp, thành lập công ty bởi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, vốn liếng từ môi trường nước ngoài. Nếu bạn thật sự có ý định đó thì tôi tin bạn cũng đã tìm hiểu rất nhiều từ các lời khuyên của những người đi trước. Tôi chỉ xin chia sẻ một điều, ở Việt Nam bạn không cần phải tạo ra cái gì hoàn toàn mới, chỉ cần hoàn thiện những cái đã có một cách hoàn hảo nhất cũng là đã quá đủ bạn ạ. Quan trọng là bạn có quyết tâm theo nó đến cùng không thôi. Tin tôi đi, tiền bạc vốn liếng xoay chỗ này chỗ kia..kiểu gì cũng xong…cái còn lại là ý chí thực hiện nó đến cùng không thôi. Nếu hiện tại bạn đang ở nước ngoài và dự định về Việt Nam trong thời gian tới để khởi nghiệp? Hãy quan sát thật kỹ những mô hình,sản phẩm dịch vụ bên đó xem có thể mang về VIệt Nam không nhé. Bạn có lợi thế rất lớn so với các bạn ở đây khi được tận mắt trải nghiệm, tìm hiểu về những thứ mà Việt Nam chưa có. Hai mô hình nước ngoài hiện nay giúp ông chủ hốt bạc là cà phê to-go kiểu starbucks và cửa hàng tiện ích kiểu 7-11. Những người muốn khởi nghiệp ở VIệt Nam thì đang vắt óc tìm kiếm ý tưởng kinh doanh, dò la sách báo internet để xem có thể kinh doanh sản phẩm dịch vụ gì mới, làm thế nào để sang nước ngoài để tìm hiểu, nhập mô hình mới về đây…Bạn còn chần chờ gì nữa, hãy quan sát xung quanh mình nhé!

5. Lời cuối cùng, tôi xin mượn một câu nói củ rích của Cố Tổng Thống Mỹ J.F.Kennedy để nhắn nhủ với các bạn. Lại một câu “lý tưởng hóa” nhưng quả thật không còn cách nào khác để diễn tả ý này. Tôi là một người sống thực tế nhưng luôn có suy nghĩ “lý tưởng”, bởi tôi nghĩ, chỉ có “lý tưởng hóa” mới có thể giúp chúng ta cải thiện một thực tế còn nhiều khiếm khuyết, chưa hoàn hảo. Nếu các bạn muốn quay về Việt Nam làm việc, sinh sống và luôn băn khoăn liệu tương lai mình sẽ ra sao? Xin “Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho ta, mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hôm nay?”…

Chúc tất cả may mắn!

Du học: sang trời Tây hay tại chỗ?

Gần cả tháng nay lu bu công việc đến giờ mới gỡ hết được bụi bám trên blog để viết entry này. Rất cảm ơn các bạn đã ghé thăm và comment trong thời gian qua. Thú thật là tôi rất muốn chia sẻ nhiều về công việc Biên tập viên truyền hình nhưng nhiều lúc nghĩ đi nghĩ lại, mình chưa phải là BTV lâu năm, dày dặn kinh nghiệm như kiểu chị Quỳnh Hương hay anh Quang Minh VTV thì nếu chia sẻ không khéo sẽ rất khó thuyết phục. Những cái cơ bản cũng đã đề cập nhiều trong các comment rồi. Hôm nay quay lại với một chủ đề quen thuộc mà tôi cảm thấy mình có nhiều kinh nghiệm hơn: đó là du học.

Số là sáng nay đi dẫn chương trình khánh thành chương trình Đại học quốc tế Miền Đồng (Eastern International University) ở Bình Dương nên trong đầu bỗng hiện lại một câu hỏi mà nhiều bạn đã từng hỏi tôi: “Nếu có điều kiện, nên ra nước ngòai du học hay du học tại chỗ ở những trường quốc tế như RMIT, Đại học Quốc Tế, British University…và sắp tới đây là EIU, Tri Viet University…?”

DU HỌC NƯỚC NGÒAI: KHÔNG CHỈ LÀ SÁCH VỞ

E hèm. Với tư cách là một người đi trước, trước đây tôi thường trả lời các bạn trẻ đại ý thế này: “ Nếu có điều kiện, em nên ra nước ngòai du học. Bởi bên cạnh những thứ trong sách vở, nhà trường.. em sẽ học được rất nhiều điều bên ngòai xã hội. Thú thật mà nói, tôi không biết ở những trường nổi tiếng như Harvard, Stanford, Yale… thế nào, nhưng đối với trường đại học công lập bình thừong như tôi đã học (Southern Illinois University Carbondale), những gì học trong trường cũng chỉ là sách vở mà thôi. Khi bạn đi Mỹ, bạn sẽ học đựơc rất nhiều thứ bên ngòai xã hội và đó mới chính là những thứ tác động đến tư duy của bạn nhiều nhất. Hệ thống giao thông trật tự, kiến trúc đô thị hòanh tráng, các hoat động văn hóa xã hội, sinh họat cộng đồng, những địa điểm du lịch, vui chơi giải trí….tất cả những điều mới mẻ đó sẽ làm thay đổi tư tưởng của chúng ta rất nhiều mà đôi khi ta không nhận ra. Nhiều bạn sinh viên hỏi tôi một câu rất đơn giản những cũng không dễ trả lời: “Anh nhận thấy đi sinh viên đi du học về có lợi thế gì nhất?”

Nhiều bạn du học sinh chắc sẽ không đồng tình với tôi, nhưng thật sự theo tôi, hai lợi thế lớn nhất (và đôi khi duy nhất) của du học sinh chính là Ngọai ngữ và Sự tự tin (bao gồm cả thái độ làm việc, ứng xử, giao tiếp…). Vậy chẳng lẽ bao nhiêu kiến thức sách vở, kinh nghiệm thực tế (nếu bạn đã đi làm sau khi ra trường) đều vô nghĩa?

Không, chúng không vô nghĩa nhưng nếu không có điều kiện để áp dụng, thì cũng chẳng lợi ích là bao! Nếu so với các ngành khối kỹ thuật thì học kinh doanh, kinh tế được xem như là dễ thích nghi nhất khi về Việt Nam. Nhưng thực tế không hề đơn giản, môi trường kinh doanh các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, quá khác xa so với Việt Nam. Những case study (tình huống thực tế) tôi được học trong các lớp business ở Mỹ đều không thể áp dụng được ở Việt Nam!! Một đất nước đang phát triển, một thị trường mới nổi như Việt Nam còn thiếu thốn quá nhiều thứ liên quan đến những nền tảng cơ bản của một thị trường cạnh tranh, nên việc cố gắng áp dụng những tư tưởng triết lý kinh doanh Mỹ sẽ khó đạt đựơc thành công. Nói một cách đơn giản, Mark Zuckerberg nếu sống trong môi trường Việt Nam chắc sẽ khó gây dựng một đế chế Facebook theo cách của anh đã làm ở Mỹ. Nói không ngoa, những người đã đi làm càng lâu ở Mỹ thì khi về Viêt Nam càng gặp khó khăn nhiều hơn! Chính vì vậy, việc làm thế nào để có thể áp dụng một cách thành công những gì đã học ở nuớc ngòai vào môi trường Việt Nam luôn là một câu hỏi lớn mà tất cả những cựu du học sinh đều trăn trở. Những lợi ích mà du học nước ngòai mang lại cho bạn khi quay về Việt Nam là không thể phủ nhận. Nhưng đôi khi lợi ích đó chưa đuợc khai thác một cách tối đa, và thỉnh thỏang bị bỏ phí một cách đáng tiếc. Và trước xu thế phát triển của các mô hình giáo dục quốc tế, các chương trình liên kết, du học tại chỗ, nhiều phụ huynh đã đặt câu hỏi: “Có nhất thiết phải cho con mình đi sang nước ngoài với chi phí quá tốn kém như thế?”

DU HỌC TẠI CHỖ: CHƯA ĐI NGÀY NÀO…LIỆU CÓ HỌC ĐUỢC SÀNG KHÔN?

Có quá nhiều lý do để phụ huynh lựa chọn hình thức du học tại chỗ cho con mình. Chi phí thấp, ở gần gia đình mà vẫn có bằng cấp nước ngòai, học thầy ngọai, môi trường giáo dục hiện đại…Nhưng cũng không ít người quan ngại việc du học tại chỗ sẽ khó đạt chất lượng cao vì sinh viên sẽ không được rèn luyện được tính tự lập nơi đất khách quê nguời, không học đuợc nhiều điều mới mẻ từ môi trường sống của các nước phát triển. Nếu lý giải theo nhận định của tôi ở trên về lợi thế của Du học nước ngoài thì quả thật, du học tại chỗ gặp hạn chế rất nhiều nếu xét đến những bài học bên ngòai nhà trường.

Tuy nhiên, tôi nghĩ du học tại chỗ vẫn cực kỳ bổ ích nếu có một phương pháp đúng đắn. Ở đây chỉ xin nói về ngành học quản trị kinh doanh, vì đây là ngành học khá phổ biến và cũng rất cần thiết trong bối cảnh đất nước đang phát triển. Sinh viên du học tại chỗ có một lợi thế mà không một du học sinh  nước ngòai nào có được, đó là các bạn đang sống trong môi trường Việt Nam, hòa mình vào dòng chảy phát triển của đất nước, hít thở không khí hừng hực của một quốc gia mới nổi đầy năng lựơng và tràn ngập khí thế làm giàu, khởi nghiệp, hội nhập quốc tế…

Một kinh nghiệm đáng tiếc mà tôi rút ra được (và tôi chắc chắn rất nhiều dụ học sinh Việt Nam hiện đang gặp phải), đó là khi đi du học, chúng ta quá chú tâm vào việc học những kiến thức mới tại môi trường nước ngòai mà đôi khi chưa thực sự suy nghĩ, mình sẽ áp dụng nó thế nào ở Việt Nam…Chúng ta đọc sách, nghe giảng những tình huống kinh doanh, học những kiến thức mới về kinh tế tài chính nhưng đôi khi quên mất tìm hiểu xem tình hình ở VIệt nam hiện nay ra sao. Đó là lý do vì sao khi quay trở về, nhiều du học sinh (trong đó có tôi) mất nhiều thời gian để hòa nhập, để hiểu về môi trường địa phương. Du học sinh luôn đọc báo và cập nhật thông tin quê nhà, nhưng đôi khi cũng chỉ dừng lại ở mức độ cập nhật thông tin, chứ chưa đến mức hiểu và lý giải tình hình thực tế. Hay nói đúng hơn là chưa suy nghĩ, lý giải tình hình kinh tế kinh doanh Việt Nam bằng những kiến thức đã học ở nước ngoài.

Còn nếu du học tại chỗ, nếu biết tận dụng cơ hội thì sinh viên sẽ vừa học đuợc những tư tưởng phương Tây, lại vừa đựơc có thể tiếp cận môi trừong kinh tế kinh doanh hàng ngày ở Việt Nam. Việc học tập, giao tiếp với giáo viên bản xứ sẽ giúp sinh viên cải thiện kỹ năng ngọai ngữ và sự tư tin. Song song đó, những hoat động ngọai khóa, thực tập, tiếp xúc với môi trường doanh nghiệp Việt Nam, doanh nhân Việt nam sẽ giúp các bạn hiểu đựoc tình hình thực tế. Thật sự mà nói, du học tại chỗ vẫn sẽ rất có ích nếu sinh viên biết cách tận dụng lợi thế “có mặt trên sân nhà” của mình.

THAY LỜI KẾT

 

Suy cho cùng, học thế nào đi nữa cũng là  để tìm đuợc một công việc tốt. Nếu đã xác định làm việc ở Việt Nam, thì việc lựa chọn giữa du học tại chỗ và du học nước ngòai là một điều đáng cân nhắc trong bối cảnh hiện nay. Việc thu hẹp khỏang cách giữa sách vở mà môi trường thực tế là một bài tóan nan giải của cả quốc gia. Những tổ chức giáo dục quốc tế với mô hình học tập hiện đại, năng động ở Việt Nam nếu xác định được một chiến lược đào tạo đúng đắn,  họ sẽ có thể sản sinh được những thế hệ sinh viên cực kỳ ưu việt, với lợi thế kết hợp giữa tư tưởng phương tây và trải nghiệm địa phương, góp phần giải quyết bài tóan nhân lực của Việt Nam trong thời buổi hội nhập, tiến tới kỷ nguyên công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Du học: Từ chuyện cá nhân đến chuyện đất nước

Tuổi trẻ Cuối Tuần này có một chuyên đề rất hay về Du học. Câu chuyện về nguồn chất xám đặc biệt này còn sẽ đuợc tranh luận dài dài. Trước mắt post lại lên đây để các bạn tham khảo.

 

Du học: Từ chuyện cá nhân đến chuyện đất nước

TTCT – Chưa ai tính toán hết những hệ lụy diễn ra cùng làn sóng du học ồ ạt những năm qua, song có thể thấy một nguồn tài chính khổng lồ đã được Nhà nước và xã hội chi trả.

Phía sau những cá nhân thất bại trên con đường du học và một khoảng trống thông tin của Nhà nước về du học sinh liệu có là những vấn đề mới về chất lượng nguồn nhân lực?

 

 

Những phí tổn chưa được tính hết

Năm 2000, chỉ có khoảng 10.000 học sinh, sinh viên Việt Nam du học tự túc. Nay con số du học sinh đã vượt trên 100.000 người, trong đó 90% du học tự túc. Những câu chuyện du học thất bại vì muôn ngàn lý do không còn hiếm. Nhưng cũng chưa ai tính toán hết những hệ lụy đã diễn ra cùng quá trình “xuất khẩu” ồ ạt học sinh ra nước ngoài đó.

Lo chảy máu chất xám hay chờ đợi sự trở về cống hiến?

Vấn đề những người lao động giỏi nhất, được đào tạo bài bản nhất và có kỹ năng tốt nhất di cư ra nước ngoài gây thiệt hại cho những nước đang phát triển đã được đặt ra từ lâu. Trong giai đoạn 1990-2000, số người di cư có trình độ đại học trở lên từ các nước đang phát triển sang các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã tăng gấp đôi, trong số này có rất nhiều người là du học sinh. Tốc độ này tăng nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng người di cư chỉ có trình độ trung học và gây ra mối quan ngại về nạn “chảy máu chất xám” ở các nước nghèo.

Những du học sinh Việt Nam sang nước ngoài học bằng học bổng hoặc tự túc, sau đó lựa chọn ở lại luôn nước sở tại chính là đối tượng của mối lo ngại này. Những người lo lắng chỉ ra bốn tác động xấu của tình trạng du học sinh một đi không trở lại.

Thứ nhất, các du học sinh, những lao động được chờ đợi sẽ có kỹ năng rất tốt trong tương lai, tạo ra ngoại tác tích cực trên thị trường lao động, tức là họ không chỉ làm việc tốt mà còn có thể truyền đạt kinh nghiệm và kỹ năng cho đồng sự. Họ cũng là nguồn lao động rất cần thiết để Việt Nam thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rất cần thiết cho phát triển. Điều này càng có ý nghĩa nếu Việt Nam muốn thu hút đầu tư vào những ngành công nghệ cao hơn là thâm dụng lao động.

Thứ hai, những du học sinh có thể mang về cùng họ những đòi hỏi cao hơn về chuẩn mực quản lý nhà nước. Thứ ba, giáo dục ở Việt Nam được hỗ trợ lớn của khu vực công (chiếm 8,3% GDP trong năm 2005, cao hơn cả Mỹ chỉ 7,2%), những du học sinh, nhất là những người giỏi nhất, tập trung ở các trường chuyên lớp chọn, hầu hết hưởng lợi từ một nền giáo dục do Chính phủ tài trợ, nhưng sau đó không đóng góp trở lại khi bắt đầu làm việc nếu họ quyết định không về nước (đó là chưa kể những người đi du học tự túc có thể là một nguồn đáng kể trong việc làm tăng thêm thâm hụt cán cân vãng lai).

Cuối cùng, do việc có ít lao động kỹ năng cao, tiền lương trả cho các lao động kỹ năng cao trong nước sẽ cao hơn. Điều này có thể có hại cho tăng trưởng kinh tế của cả quốc gia vì chi phí cao hơn đồng nghĩa với tính cạnh tranh của các doanh nghiệp yếu hơn.

Anna Lee Saxenian, trong nghiên cứu “Từ chảy máu chất xám đến luân chuyển chất xám” năm 2005 chỉ ra rằng tính đến năm 2000, hơn một nửa kỹ sư ở Thung lũng Silicon – khu công nghệ cao số một Hoa Kỳ – sinh ở nước ngoài, trong đó có một phần tư đến từ Ấn Độ hoặc Trung Quốc.

Rất nhiều những người này sau đó trở về nước và lập nên những công ty của mình, làm tư vấn cho các quan chức chính phủ về công nghệ cao hoặc đi dạy ở các trường đại học trong nước. Vì vậy họ có thể góp phần quan trọng tạo nên những “Thung lũng Silicon mới” ở Bangalore (Ấn Độ) hay Thượng Hải (Trung Quốc).

 

Du học sinh Việt Nam qua những con số

Trong khi số lượng ngày càng tăng, từ 4.597 người lên 13.112 người sau sáu năm (2005-2010) chỉ tính riêng tại Mỹ, lại không ai nắm được chất lượng du học sinh Việt Nam ra sao bởi chưa có nghiên cứu nào đủ chi tiết.

Hiện hầu hết nghiên cứu về du học sinh ở nước ngoài là do nước sở tại tiến hành. Một nghiên cứu như vậy của Trung tâm Thương mại bang Maine, Hoa Kỳ tháng 9-2010 mang đến nhiều góc nhìn. “Sinh viên Việt Nam tràn ngập nước Mỹ trong niên khóa 2008-2009 – nghiên cứu viết – Tăng tới 46,2% so với niên khóa 2007-2009”.

Mặc dù học sinh Việt Nam chỉ chiếm 1,9% tổng số học sinh quốc tế tại Hoa Kỳ, Việt Nam đã nhanh chóng tiến vào tốp 10 nước có nhiều du học sinh nhất Hoa Kỳ, qua mặt Thái Lan (8.531 du học sinh, đứng thứ 15 năm 2010) hay Indonesia (6.943 học sinh, thứ 18). Tỉ lệ tăng số du học sinh Việt Nam tại Hoa Kỳ luôn ở mức hai con số kể từ niên khóa 1998-1999.

Với hầu hết trường đại học ở Hoa Kỳ, Việt Nam là một thị trường mới nổi rất đáng chú ý. “Những đối thủ cạnh tranh chính trong việc thu hút du học sinh Việt Nam của Hoa Kỳ là Úc, Trung Quốc, Anh và Singapore” – nghiên cứu viết. Tại Úc, con số này là 23.000 sinh viên Việt Nam (năm 2010), chưa kể 10.000 người theo học các chương trình dạy nghề. Úc cũng là nhà cung cấp học bổng lớn nhất cho du học sinh Việt Nam.

Phần lớn du học sinh Việt Nam tại Hoa Kỳ học ở bậc đại học, chiếm khoảng 72,1% tổng số du học sinh, 15,2% là cao học, 9,9% ở các cấp học khác và 2,8% học nghề. Thăm dò của Viện Giáo dục quốc tế Mỹ (IIE) năm 2010 còn chi tiết hơn, cho thấy dự định và mục tiêu của du học sinh Việt Nam tại Hoa Kỳ. Các sinh viên liệt kê Hoa Kỳ là điểm đến số một và coi đó là một nơi học tập ưa thích hơn so với Anh, Singapore, Pháp, Úc và các nước khác.

Có một con số không biết nên vui hay buồn là gần 40% du học sinh Việt Nam tại Hoa Kỳ học các ngành quản trị và kinh doanh, cao nhất trong tất cả các nước. Đây thường là nhóm ngành có tỉ lệ du học sinh theo học cao nhưng với Việt Nam, nó cao một cách bất thường.

Ba nước dẫn đầu về số lượng du học sinh tại Hoa Kỳ có tỉ lệ trên chỉ là 24,3%, 15,3% và 17%, tương ứng với ba nước Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ. Vì thế tỉ lệ du học sinh Việt Nam theo học ngành kỹ thuật chỉ là 10,8% (so với 20,2% của Trung Quốc, gần 40% của Ấn Độ và 12,6% của Hàn Quốc). Tương tự, tỉ lệ du học sinh Việt Nam học những lĩnh vực cần thiết nhất của xã hội hiện giờ như khoa học cơ bản, công nghệ, khoa học xã hội hay nghệ thuật đều ở mức thấp so với các nước.

Tới 45% du học sinh Việt Nam được hỏi trong nghiên cứu của IIE trả lời rằng họ quan tâm tới quản trị kinh doanh, 14% quan tâm tới khoa học xã hội, trong khi số quan tâm đến khoa học ứng dụng không đáng kể. 90% du học sinh Việt Nam tin rằng tiếng Anh là kỹ năng quyết định để có việc làm, trong khi 76% tin rằng mảnh bằng Tây sẽ giúp họ có cơ hội tìm việc làm dễ dàng hơn.

Nghiên cứu cũng hỏi sinh viên về những trở ngại lớn nhất mà họ gặp phải. Không ngạc nhiên khi 84% trả lời tiền bạc là vấn đề khiến họ đau đầu nhất khi du học (đây cũng là trục trặc lớn nhất của các bậc phụ huynh, ở một nước mà thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 1.000 USD). Sau chuyện tiền nong là thông tin chính xác (46%), xin thị thực du học (36%), rào cản ngôn ngữ (35%), khác biệt văn hóa (33%) và khoảng cách quá xa nhà (25%).

Không chỉ trong quá trình học hành, nhiều vấn đề cũng phát sinh khi họ đi xin việc dù chưa có nghiên cứu chi tiết nào về vấn đề này. Những sinh viên tốt nghiệp mà chúng tôi gặp liệt kê vấn đề bao gồm bằng cấp không tương thích với công việc (dễ hiểu là dù ở Hoa Kỳ hay Việt Nam, thị trường lao động không cần nhiều giám đốc điều hành các doanh nghiệp như vậy), trong khi khó tìm được việc làm như mong muốn ở nước sở tại, việc trở về nước của họ cũng khó khăn do quá trình hòa nhập với một môi trường nhiều khi khác hẳn.

Tốn bao nhiêu để có tấm bằng Tây?
Theo Viện Giáo dục quốc tế Mỹ, trung bình các chi phí du học của một sinh viên như sau:
Khoản mục Chi phí
Học phí đại học tư (loại cao) 25.000 USD/năm (500 triệu đồng)
Học phí đại học tư (loại thấp) 15.000 USD/năm (300 triệu đồng)
Học phí đại học công lập (loại cao) 20.000 USD/năm (400 triệu đồng)
Học phí đại học công lập (loại thấp) 10.000 USD/năm (200 triệu đồng)
Sinh hoạt phí bao gồm tiền thuê nhà, ăn uống, điện thoại, đi lại, sách vở… Khoảng 1.000 USD/tháng, tương đương 10.000 USD/học kỳ (200 triệu đồng)
Như vậy tính tổng cộng cho bốn năm đại học, một tấm bằng cử nhân Hoa Kỳ sẽ tiêu tốn của một gia đình Việt Nam khoảng 2,4 tỉ đồng, nếu con em họ du học tự túc hoàn toàn.

HẢI MINH

 

Các bậc cha mẹ Việt Nam sẵn sàng đầu tắt mặt tối cho con du học. Nhưng có một thực tế mà nhiều phụ huynh ít biết: Ở các nước có nền giáo dục tốt, các trường công luôn khó vô vì xét điểm rất gắt gao, nên trường tư mới mọc ra như nấm.

Cấp trung học không thậm xưng bảng hiệu nhưng bậc đại học thì tự xưng “Institute” này, “viện” kia, tuyệt nhiên không gọi mình là “đại học” (university) hay cao đẳng (polytechnics). Nhiều trường còn thuê nhân viên hướng dẫn người Việt, phụ huynh qua hỏi thăm gặp tư vấn người Việt vừa dễ hiểu lại thêm phần tin tưởng. Thực hư các trường ra sao hạ hồi phân giải.

Trước khi cho con đi du học, các bậc cha mẹ cần trả lời được các câu hỏi: Con mình học hành mấy năm qua như thế nào? Có học “hết công suất” không hay chỉ “tài tử”, “tầm tầm”? Con mình có mê học hơn mê game không, có mê học hơn mê chơi không?…

Nếu các câu trả lời đều là “không” thì hãy thận trọng: một chuyến đi học nước ngoài, ngay cả ở nơi có nền giáo dục tốt, không hẳn sẽ giúp thay đổi bản chất một đứa trẻ, nhất là khi trẻ được sống “một mình một cõi”.

THIÊN DI

Nuôi con du học tự túc

Con trai đầu của tôi du học tự túc ở New Zealand bốn năm. Bạn bè, người quen có ý định cho con du học hỏi thăm tôi tốn kém thế nào. Tôi trả lời ngay: “Giống như mình lái chiếc Camry mới toanh sang New Zealand rồi bỏ lại đó!”.

Ngày con tốt nghiệp trung học, biết học lực con cũng chỉ giỏi… vừa vừa, có thi vào các trường đại học danh giá một chút trong nước cũng không chắc đậu, tôi và vợ bàn nhau lo liệu cho cháu du học. Học ở đâu bây giờ là một câu hỏi lớn. Xem tiền học một số trường ở Mỹ mà chóng mặt. Chúng tôi bạc mặt chạy hỏi các trung tâm du học, đơn vị tư vấn du học, hỏi người quen biết, lên mạng…

Giữa lúc ấy, chúng tôi đọc được một quảng cáo chiêu sinh du học ở New Zealand, điều kiện không quá ngặt: chỉ cần học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông loại khá, thêm bằng C tiếng Anh. Con trai chúng tôi đạt được cả hai tiêu chuẩn đó.

Mọi chuyện thật dễ dàng về thủ tục du học, vấn đề còn lại là học phí, chuyện ăn ở của cháu ở nước ngoài. Chúng tôi cân nhắc, bàn bạc rất lâu, cuối cùng gia đình và cháu quyết định chọn ngành hải dương học tại Đại học bách khoa Tauranga vì cháu yêu thích ngành này. Tauranga là một thành phố không quá “phù hoa đô hội” sẽ giúp cháu chuyên tâm học. Và quan trọng nữa là học phí của trường “vừa vặn” khả năng lo liệu của gia đình (ngày ấy học phí mỗi năm học hơn 6.000 USD, chi phí ăn ở khoảng 4.000 USD, rẻ hơn nhiều so với học tại Mỹ).

Những năm đầu tiên, chúng tôi khá vất vả để lo cho con, công việc cơ quan xong tối về nhận thêm việc làm ở nhà. May mắn là cháu học tập tốt, yêu thích ngành học… Nhìn ảnh cháu gửi về mặt mũi hớn hở tươi vui, bao nhiêu nhọc nhằn của chúng tôi tan biến. Năm học thứ ba, cháu cùng vài bạn bè người Việt tìm việc làm thêm ngoài giờ học để đỡ gánh nặng cho bố mẹ. Cháu làm ở một lò bánh mì, đứng bếp chiên đồ ăn, tự lo được tiền tiêu vặt và quan trọng nhất là hiểu được giá trị đồng tiền tự mình làm ra.

Một dịp hè cháu về thăm nhà, nhìn đôi tay của con đầy vết bỏng vì dầu chiên, chúng tôi thật cảm động. Tốn nhiều tiền cho con du học, điều chúng tôi mừng nhất là khi về nước cháu tìm được ngay công việc thích hợp với ngành học. Thật may mắn vì chúng tôi đều chuẩn bị nghỉ hưu!

TRỌNG THANH (Q.Bình Thạnh, TP.HCM)

 

Tôi buồn vì vẫn có nhiều sự học vô mục đích

Ở tuổi thất thập, thầy NGUYỄN ĐỨC HÒE – hiệu trưởng Trường Nhật ngữ Đông Du – vẫn nói: “Tôi sẽ phải thay đổi tư duy”. Điều ông nói đến là câu chuyện phía sau một cơ đồ không mấy ai làm được: đưa trên 1.000 học sinh đi du học miễn phí.

* Chúng tôi mới phỏng vấn nhiều học sinh muốn đi du học và nhận được trả lời “đi du học vì thích, vì đại học trong nước quá dở, vì cha mẹ có tiền cho đi”. Thầy nghĩ sao về chuyện này?

– Đó là một tâm thế du học hơi tùy tiện và cũng là mối khủng hoảng tinh thần của tôi những năm qua. Đây là một vấn đề giáo dục lớn của đất nước bây giờ. Tôi làm về du học hơn 40 năm, năm nào tuyển học trò đưa đi đều thấy sự xuống dốc: xuống dốc về trình độ khoa học, kiến thức chung, tinh thần và tư duy cũng xuống. Tôi cứ băn khoăn tìm cách sửa.

Mùa thu năm ngoái, một giáo sư Đại học Kinki vùng Osaka (Nhật Bản) sang VN tìm tôi. Vị giáo sư này được Bộ Giáo dục Nhật Bản ủy thác đi tìm hiểu tình hình sinh viên VN. Ông đã gặp sáu sinh viên và sau khi trò chuyện với họ, ông nói với tôi “như vậy thì không có kết quả”. Trong cuộc phỏng vấn, những em đã tốt nghiệp không trả lời được vì sao chọn ngành học đó.

Hỏi “tốt nghiệp xong em sẽ làm gì?”, câu trả lời chung là “kiếm một công ty trả lương cao”. Vị giáo sư ấy nói: “Tôi thấy sinh viên VN học rất xuất sắc nhưng đều là học hoàn toàn trong sách, lại không định hướng được cuộc đời mình, hiểu rất ít về xã hội, về con người. Những sinh viên ấy hỏi về nước Nhật cũng không rành, hỏi về VN cũng ú ớ. Họ về VN sẽ làm được gì đây?”.

Tôi nghĩ câu hỏi ấy là câu hỏi chung của đất nước ta. Bố mẹ sai lầm không định hướng cho con, Nhà nước không định hướng cho du học sinh, nhiều em đi học chỉ vì mảnh bằng rồi nghĩ mảnh bằng ấy sẽ giúp em cả đời, giống như cách đi thi để làm quan ngày xưa. Cách nghĩ sai lầm ấy làm hỏng các em.

Học là phải gắn liền với tư duy thực tiễn. Nhưng bây giờ bằng cấp và tiền bạc chi phối. Tôi đã nhiều năm đưa học trò đi du học mà không để ý điều này, chỉ thấy em nào học giỏi mà nhà nghèo là giúp các em đi du học. Giờ là lúc thay đổi tư duy, nếu không học trò của tôi “không dùng được” – như ông giáo sư Nhật Bản ấy nói – học xong không dùng được ở ngoài đời, không dùng được ở Nhật Bản, chẳng dùng được ở VN, chỉ cầm được mảnh bằng về, có khi còn huênh hoang khoe khoang.

Đây là vấn đề của VN và tôi cho rằng chính chúng ta phải giải quyết. Mình làm giáo dục, muốn sản phẩm của mình có thể thay đổi được xã hội, hữu ích cho xã hội thì phải thay đổi tư duy ở nhiều khâu. Thay đổi cách dạy, nội dung giáo dục, hướng giáo dục đã đành, quan trọng nhất là thay đổi con người, giúp học trò thay đổi.

* Theo thầy, căn nguyên trực tiếp của những lệch lạc trong chọn lựa đi du học ấy là từ đâu?

– Căn nguyên lớn nhất chính là một lề thói dùng người theo bằng cấp, tức quyền lợi đi theo bằng cấp. Bố mẹ khuyên con học lấy bằng, đương sự cũng nhìn thấy chỉ có một con đường: phải có bằng mới được tuyển dụng, bổ nhiệm. Xã hội giờ cũng trọng người có bằng, ai có chức danh, bằng cấp thì nhiều người nghe, không biết rằng giữa bằng cấp và cái thực biết là hai thứ khác nhau. Tâm lý vọng ngoại còn rất nặng.

Đất nước mình cần rất nhiều kỹ sư, chuyên viên để phát triển đất nước, chúng ta đâu cần nhiều tiến sĩ như vậy. Nhà nước đổ tiền vào đào tạo tiến sĩ, bổ nhiệm chuyên viên cũng vậy, ai có lắm bằng cấp thì dùng. Không thể trách nhân dân được vì họ thấy con đường ấy là duy nhất cho con em họ.

* Theo thầy, VN cần điều chỉnh vấn đề này ra sao?

– Sự hội nhập mang đến một lối làm giáo dục phi tổ quốc của nhiều quốc gia phương Tây, đào tạo những con người quốc tế, không thuộc dân tộc nào cả. Thanh niên tiếp nhận toàn những giới thiệu màu hồng khi du học, về lối sống sung sướng và tự do cá nhân.

Vấn đề của VN là phải làm cho thanh niên thấy được những vấn đề lớn của đất nước này: mối nguy về xâm phạm chủ quyền, nghèo đói, lạc hậu, vay nợ… Không thể chỉ dạy họ niềm tự hào về độc lập, ấm no, thịnh vượng. Phải nói thẳng cho thanh niên rằng “đất nước đang gặp nhiều khó khăn”, cần các em góp sức và thể hiện trách nhiệm.

Một cán bộ Bộ Nội vụ nói với tôi: “Tôi rất ngạc nhiên vì sinh viên của anh đều về, trong khi Nhà nước đưa đi 10 người thì 6-7 người ở lại nước ngoài”. Tôi nói với ông ấy: Hãy vạch cho các em thấy VN cần các em, VN chính là nơi các em thể hiện tốt nhất sở học của mình. Nhà nước phải tự tin nói với các sinh viên VN về điều này.

Tôi nghĩ cần giúp thanh niên định hướng cuộc đời mình: Học cái gì? Đạt được gì? Gánh vác những trách nhiệm gì? Thấy được sự tương quan giữa cá nhân họ với gia đình, với cộng đồng, với xã hội và đất nước của họ, điều chỉnh những kế hoạch đời họ để sống có ý nghĩa, sống có trách nhiệm. Nhà nước phải có một ngọn đuốc thắp lên để thanh niên trông vào đó đi theo.

Tháng 6 vừa rồi, tôi gặp lại ông giáo sư nọ. Ông ấy nói nhiều đại học Nhật Bản đã mở một môn học mới về tư duy. Tư duy lại về mục đích học tập, làm học trò có động lực học, hứng thú khi học tập và làm việc; giúp các em hiểu được học cái đó sẽ dùng nó ở đâu, tùy cơ ứng biến.

Học cao, học kỹ nhưng khi làm việc thì hoàn cảnh nào cũng làm việc được. Nếu tất cả sinh viên du học đều nhận thức sâu sắc được điều đó…, chúng ta tin rằng những lệch lạc hiện thời trong câu chuyện du học sẽ được khắc phục.

CẨM PHAN

Mấy chục năm đưa học sinh đi du học, tất cả học trò tôi đều thành đạt, nhưng là cá nhân các em thành đạt. Các em được đi ra nước ngoài, có bằng cấp, các công ty nước ngoài mời làm việc, kiến thức mở rộng… Người duy nhất thất bại là tôi. Vì mục đích tôi đề ra là đào tạo những con người biết nghĩ đến đất nước, dấn thân vào chỗ khó để thay đổi, sửa chữa, vun đắp.

Cụ Phan xưa đưa được 200 người đi, tôi đưa được hơn 1.000. Nhưng mục đích du học bây giờ lại trở thành cá nhân. Cho nên tôi nghĩ nếu tiếp tục cách làm như vậy thì hoàn toàn vô nghĩa. Tôi phải thay đổi tư duy mới hi vọng đạt được điều mình mong muốn. Nhìn rộng ra, chúng ta phải thay đổi tư duy, đất nước này cần thay đổi tư duy.

Mỗi sự đầu tư cho học tập đều là để khai thác được tinh thần, trí tuệ của người VN, bộ óc của người VN được dùng đúng sẽ giúp chúng ta làm chủ vận mệnh của mình.

Thiếu thông tin, khó tham mưu về chính sách nhân lực

Trao đổi với TTCT, ông Nguyễn Xuân Vang, cục trưởng Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ GD-ĐT), cho biết cục vẫn “đang tìm cách kết nối với du học sinh VN” để hỗ trợ họ tốt hơn.

 

Ông Nguyễn Xuân Vang cho biết hiện có trên 100.000 người VN đang học tập ở nước ngoài, trong đó khoảng 90% học sinh đi học bằng kinh phí tự túc, 10% có học bổng từ các nguồn tài chính khác như ngân sách nhà nước (gồm đề án 322, đề án 165, đề án xử lý nợ với Liên bang Nga, hiệp định ký kết với chính phủ các nước), ngân sách địa phương (đề án Mekong 1000, TP.HCM, Đà Nẵng…), học bổng toàn phần hoặc bán phần do chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, quỹ, cơ sở giáo dục nước ngoài, công ty… cấp trực tiếp. Ông nói:

– Theo quan sát của tôi, các ngành nghề mà du học sinh theo học chia thành hai mảng: du học sinh được Bộ GD-ĐT cử đi học chủ yếu theo các ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản lý; còn đa số du học sinh diện tự túc thường chọn các ngành kinh tế, tài chính.

Dù lực lượng du học sinh đông đảo như vậy nhưng đến giờ chúng tôi chỉ quản lý được số du học sinh do Bộ GD-ĐT cử đi, hiện hơn 5.000 em. Ngay cả du học sinh đi học bằng ngân sách nhà nước nhưng do cơ quan khác cử đi, chúng tôi chỉ nắm được số lượng chứ không có thông tin cụ thể. Du học sinh du học tự túc chúng tôi cũng chỉ nắm được số lượng.

 

Trong số 49 nước/vùng lãnh thổ có du học sinh VN, Úc là nơi có nhiều du học sinh VN nhất (khoảng 25.000 người), tiếp theo là Mỹ (13.000 người) và Trung Quốc (12.500 người).

Ngoài một số nước/vùng lãnh thổ có lượng du học sinh VN lớn như Singapore (7.000), Anh (6.000), Pháp (5.540), Nga (5.000), Nhật Bản (3.500)… một số nước/vùng lãnh thổ có từ 100-700 du học sinh như Hà Lan, Cộng hòa Czech, Lào, Thụy Sĩ, Slovakia, Cuba… Các nước khác như Belarus, Romania, Indonesia, Myanmar, Mông Cổ, Morocco, Libya, CHDCND Triều Tiên, Mozambique… có từ 2-8 du học sinh VN.

(Nguồn: Cục Đào tạo với nước ngoài, Bộ GD-ĐT)

* Con số hơn 100.000 du học sinh ông nêu ở trên là căn cứ vào đâu?

– Chúng tôi có được số liệu thống kê du học sinh VN từng nước thông qua đại sứ quán nước ngoài tại VN. Nhưng họ chỉ có thể cho chúng tôi số liệu bao nhiêu người VN được cấp visa du học vào nước họ. Nguồn tin thứ hai là phòng quản lý du học sinh hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của VN ở nước ngoài. Nhưng chúng tôi không có thông tin cụ thể về những du học sinh không do bộ cử đi như học ở đâu, trường nào, ngành gì, kết quả/tiến độ học tập ra sao…

Chúng tôi đã bắt đầu quản lý du học sinh do Bộ GD-ĐT cử đi học thông qua một hệ thống trực tuyến. Những ứng viên muốn đăng ký học bổng ngân sách nhà nước hoặc học bổng hiệp định đều phải nộp hồ sơ trực tuyến đồng thời nộp hồ sơ giấy. Sau khi được duyệt, du học sinh sẽ thường xuyên cập nhật thông tin của mình trên hệ thống này (gửi báo cáo, kết quả học tập, đề nghị cấp sinh hoạt phí, học phí sáu tháng/ lần), đồng thời có thể đề xuất, thắc mắc và trao đổi trực tuyến với cán bộ của Cục Đào tạo với nước ngoài.

Tuy nhiên, chương trình này không thể áp dụng với du học sinh tự túc và du học sinh đi học bằng các nguồn tài chính khác. Vì thế nắm được thông tin về du học sinh, đặc biệt du học sinh tự túc, là một vấn đề nan giải. Suốt quá trình làm thủ tục đi học, chẳng có khâu nào các du học sinh tự túc phải liên hệ với bộ cả.

Tất nhiên thủ tục hành chính đơn giản thì rất tốt cho người dân, tôi chỉ muốn nói chúng tôi không biết bám vào đâu để có thông tin. Các địa phương, tổ chức, cá nhân nước ngoài cấp học bổng cho học sinh VN cũng không có cơ chế phối hợp trao đổi thông tin với Bộ GD-ĐT nên việc quản lý không thể thực hiện được.

* Vậy ông có ý tưởng nào để khắc phục điều này?

– Cần có cơ chế chính sách phù hợp để nắm bắt được số liệu và tình hình cụ thể của du học sinh VN. Hiện cục chúng tôi đang chủ trì soạn thảo quy chế về công tác du học sinh người VN học tập ở nước ngoài, dự kiến cuối năm 2011 sẽ trình Chính phủ phê duyệt, trong đó có quy định về trách nhiệm của các cơ quan liên quan, quyền lợi và nghĩa vụ của du học sinh VN. Trong dự thảo quy chế, chúng tôi đưa ra nhiều giải pháp để du học sinh tích cực cập nhật thông tin về tình hình học tập của mình cho cơ quan chức năng.

Quan điểm của chúng tôi là không hành chính hóa chuyện quản lý. Cái chính là chúng tôi cần thông tin của các em, trước hết để có thể hỗ trợ các em trong học tập, cung cấp thông tin về chế độ chính sách, học bổng, cơ hội việc làm, đảm bảo các quyền lợi chính đáng cho các em. Chẳng hạn, dù các em đi du học tự túc nhưng vẫn có quyền xin học bổng của Nhà nước để học chuyển tiếp nếu học giỏi.

Quan trọng hơn cả là khi có đủ dữ liệu, Bộ GD-ĐT mới có thể tham mưu đúng về chính sách đào tạo nguồn nhân lực với Chính phủ. Những thông tin cụ thể về ngành nghề du học sinh theo học là dữ liệu rất quan trọng giúp các cơ quan sử dụng lao động thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng. Tiềm năng đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước của du học sinh rất lớn nhưng thực tế sử dụng nguồn nhân lực này còn nhiều vấn đề phải bàn.

* Ông nghĩ sao khi nhiều người lo ngại về sự lãng phí nguồn lực do nhiều du học sinh muốn ở lại nước ngoài làm việc khi có cơ hội?

– Hiện chúng tôi không có số liệu nào về việc du học sinh ở lại nước ngoài hay về nước làm việc. Các sứ quán cũng không nắm được do chế độ, quy định nhập cảnh với du học sinh ở các quốc gia/vùng lãnh thổ khác nhau. Theo quan sát cá nhân tôi, nhiều du học sinh ở lại nước ngoài làm việc nhưng vẫn đi đi về về với gia đình ở VN.

Tôi cho rằng thu hút được những người đã được đào tạo, làm việc ở nước ngoài về nước làm việc là điều đáng quý, bất kể họ sẽ làm việc ở khu vực nhà nước hay tư nhân. Vấn đề là có thu hút được họ về làm việc trong nước hay không. Để giải quyết được việc này cần phải nghiên cứu nghiêm túc và có chính sách phù hợp.

Chúng tôi luôn ý thức nỗ lực trong việc kết nối với du học sinh. Với du học sinh đi học bằng học bổng của Nhà nước, khi họ trở về chúng tôi đều trả họ về cơ quan cũ nơi họ làm việc trước khi đi học hoặc các trường, bộ, ngành mà chúng tôi nắm được thông tin tuyển dụng. Với du học sinh du học tự túc, chúng tôi vẫn đang cố gắng tiếp cận với các em. Cục có website riêng, công khai email tất cả cán bộ của cục để các em liên hệ.

Từ hai năm nay, năm nào chúng tôi cũng cùng Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban Cán sự Đảng ở nước ngoài giao lưu trực tuyến với du học sinh để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của họ. Năm ngoái, chúng tôi và Ban Cán sự Đảng ở nước ngoài có ý tưởng tổ chức một đại hội du học sinh VN trên toàn thế giới nhưng không thực hiện được vì không có kinh phí.

Hiện chúng tôi vẫn theo đuổi ý tưởng này, tìm nguồn tài trợ để có thể tổ chức trong thời gian sớm nhất.

* Rất cảm ơn ông!

THƯ HIÊN thực hiện